. TRỞ VỀ MỤC LỤC

ÐÀ LẠT 
QUA LĂNG KÍNH HOÀI NIỆM 

.

NHỚ VỀ ÐÀ LẠT 

VI SAO 

LTS - Vi Sao là người sinh trưởng nơi miền cao nguyên sương mù, thuộc từ lùm cây bụi cỏ, từng khóm hoa vườn Bích câu, từng gốc anh đào đường vòng khúc khuỷu. Ðọc Vi Sao, bạn sẽ tìm lại được một góc cạnh rất thân thương, rất ư là... Ðà lạt.

Nói đến Ðà lạt chắc mọi người đều biết, hoặc nghe tên hoặc có lần đật chân đến miền đất cao nguyên đầy sương mù này.

Ðà lạt là quê hương nhỏ bé của riêng tôi, nơi tôi được sinh ra và lớn lên, nơi vẫn được mệnh danh là trung tâm du lịch của Việt nam mà một số du khách ngoại quốc gọi là "Petite Paris". Ðây là một thành phố xinh đẹp nằm trên vùng đồi núi thuộc cao nguyên Lâm viên, cách thủ đô Saigon 250km đường chim bay. Nhờ ở cao độ 1.500m nên khí hậu lúc nào cũng dễ chịu, trung bình là 18 độ bách phân. Ðà lạt có hai mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4. Ðôi lúc cũng có mưa đá. Sương mù hay xảy ra vào mùa mưa phủ trên các thung lũng một tấm áo trắng lạnh toát. Riêng trên bề mặt cao nguyên chỉ có một lớp mù mỏng làm cảnh vật trở nên diễm ảo.

Trước năm 1897, Ðà lạt vẫn còn là vùng đất xa lạ đối với nhiều người. Rừng núi hoang vu, quanh năm mây mù, lác đác dưới những thung lũng một vài thôn ấp nhỏ, mấy cụm chòi tranh lưa thưa, những nhà sàn thô sơ được bao quanh bởi những rặng thông xanh bát ngát cùng những đóa lan rừng hoang dại. Ðó đây bầy cà tong nhàn nhã dạo chơi, bầy nai lững thững gặm cỏ bên con suối róc rách nước trong veo... Ngày ấy, vùng đất này thuộc quyền cai trị của viên tù trưởng Thượng Yagut, thuộc chủng tộc Koho. Sau này để nhớ ơn người tù trưởng đã góp phần khai phá, dân chúng Ðà lạt đã lấy tên ông đặt cho một con đường (dinh thự của bà Ngô Ðình Nhu tọa lạc trên con đường này).

Mùa thu năm 1897, một y sĩ Pháp, ông Yersin và người yêu là nữ hầu tước Luxembourg, lần đầu tiên đặt chân lên vùng đất này đã nhận thấy nơi đấy đúng là nơi lý tưởng để khai hoang lập nghiệp. Ý nghĩ của y sĩ Yersin phù hợp với tham vọng của viên toàn quyền Pháp lúc bấy giờ là Paul Doumer. Ông này cho thiết lập các cơ sở hành chánh, đài khí tượng, vườn ươm cây..., đắp một con đường giao thông huyết mạch nối Ðà lạt với vùng hạ du qua đèo Ngoạn mục (Belle Vue) và một đường khác xuôi nam qua đèo Bảo lộc, dẫn về Sài gòn.

Ðà lạt thời đó như một thiếu nữ dậy thì duyên dáng kiêu sa đã thu hút mọi giới đổ xô đến lập nghiệp hoặc xây cất những dinh thự làm nơi nghỉ mát. Về thắng cảnh, Ðà lạt có khá nhiều hồ: hồ Xuân hương nằm ở trung tâm thị xã, hồ Mê linh, hồ Than thở nằm cách thị xã 5km... với những rặng cây bạch tùng, ngô tùng và thông mọc san sát trên các con đường vòng uốn khúc, tạo cho toàn cảnh một vẻ nên thơ đặc biệt. Ngoài ra, do cấu tạo địa chất, các sông suối của Ðà lạt chảy qua nhiều loại đá khác nhau tạo nên nhiều ghềnh thác: thác Cam ly, rất đẹp, nguồn của sông Ðồng nai; đập Suối Vàng cách Ðà lạt 18km, thác Prenn, thác Liên khương, thác Gougah hùng vĩ...

Ðối với nhiều người, nhắc đến Ðà lạt là nhắc đến các loại rau, hoa ôn đới. Nhờ khí hậu ôn hòa, thành phố này có thật nhiều màu xanh. Màu xanh của những rặng thông già, của những đồi cỏ trùng trùng điệp điệp, hòa lẫn màu xanh của hồ nước, của trời, tạo cho con người cảm giác thoải mái, gần gũi với thiên nhiên. Ðà lạt qui tụ rất nhiều kỳ hoa dị thảo. Tất cả các loại hoa hiếm qúy của thế giới đều có thể trồng được ở Ðà lạt. Từ những khóm hoa nhỏ bé như violette, forget-me-not, pensée đến những loại hoa anh đào Nhật bản... Chỉ riêng hoa hồng, Ðà lạt đã có mấy chục loại, khác nhau từ hương đến sắc khiến cho những kẻ yêu hoa phài mê mẩn. Hoa lan có đến hàng ngàn thứ, từ những loại dễ trồng trong chậu như thổ lan đến những loại sống bám trên cây như hương lan mà hương sắc vô cùng phong phú, chỉ có những tay sành lan mới có thể phân biệt được. Nhà văn Nhất Linh lúc sinh tiền đã biến khuôn viên của ông thành một vườn lan nổi tiếng vào thập niên 50, 60. 

Là một thành phố tân lập, ngoài những sắc dân thiểu số, cư dân Ðà lạt đến từ nhiều miền đất nước nên giọng nói mang một âm hưởng đặc biệt vì pha trộn cả ba miền Nam Trung Bắc, nghe thật ngộ nghĩnh và ngọt ngào dễ thương. Ðặc biệt là các thiếu nữ Ðà lạt có làn da thật mịn màng, đôi má lúc nào cũng hây hây hồng làm rung động biết bao nhiêu trái tim trai trẻ.

Sinh hoạt Ðà lạt bắt đầu từ tờ mờ sáng. Khi màn đêm còn bao phủ, người còn nồng say giấc điệp thì tiếng chuông công phu chùa Linh sơn đã ngân vang, thức tỉnh thế gian. Ðây là ngôi chùa lớn nhất Ðà lạt, toạ lạc trên một ngọn đồi ở đường Phan Ðình Phùng. Sau chùa là đồi chè bát ngát xanh um, kế tháp chuông là trường trung học Bồ Ðề. Giờ này, trên khắp các nẻo đường từ thành phố, những người sống bằng nghề trồng rau đang lũ lượt kéo nhau về sau phiên chợ khuya. Ai nấy gánh những quang gánh nhẹ tênh vì rau cải, bắp sú, mận, dâu... đã được bán cho các bạn hàng tiểu thương đóng rau chở về các tỉnh. Vài chiếc xe ngựa nặng nhọc thồ những kiện rau cải lớn về chợ Ðà lạt. Tiếng móng ngựa gõ trên đường khuya hòa lẫn tiếng nói cười của những cô gái quê đi chợ sớm tạo thành một âm thanh ma quái trong sương khuya. 

Chợ đêm, một sinh hoạt rất đặc biệt của Ðà lạt, họp từ 1 giờ khuya đến khoảng 5 giờ sáng thì tan chợ. Khi ánh tà dương ló dạng, những tia nắng đầu ngày chiếu xuyên làn sương mù trông như những hào quang của phép lạ, làm lóng lánh những hạt sương đêm còn đọng trên búp hoa, trên tàu lá, trên những thảm cỏ nhung xanh biếc... thì lác đác trên những con đường từ buôn làng dẫn vào thành phố, vài nhóm người Thượng thuộc chủng tộc Koho đi hàng một, thành từng hàng nhỏ. Người nào cũng đen đúa, phần đông đi chân đất, có người còn đóng khố, vai vác chà gạc, lưng đeo gùi đựng đầy những củi ngo dùng để nhóm bếp hay những giò lan rừng đem ra chợ để đổi lấy gạo, muối.

Ðêm Ðà lạt với màn sương giăng giăng một màu lam tím nhạt, ánh đèn đường vàng vọt yếu ớt chiếu không lọt qua màn sương tạo thành một thứ ánh sáng mờ ảo huyền hoặc như từ một thế giới nào không thực. Những cơn gió từ mặt hồ Xuân hương gây gây lạnh khiến ta thèm thuồng không khí ấm cúng và giòng nhạc trữ tình của cà phê Tùng với hương vị cà phê thật đặc biệt, đậm đà, ấm áp, uống một lần là nhớ mãi. Người ta đồn cà phê Tùng có pha hạt cau nên hương vị có khác những cà phê quán khác. Ðiều này không biết thực hư như thế nào nhưng tất cả dân Ðà lạt đều kháo nhau như thế. 

Nếu thích không khí bập bùng quyến rũ với ly cà phê pha rhum thì bạn nên đến cà phê Vui của minh tinh màn bạc Kim Vui. Sau đó nếu còn hứng, bạn cùng tôi từng bước từng bước thầm, tay trong túi manteau nhẩn nha dạo phố. Ði một lúc mỏi chân khát nước, thì đây, mời bạn ghé lề đường Minh Mạng uống một ly sữa đậu nành nóng hổi thơm phức mùi lá dứa mà bạn đã ngửi thấy từ xa trên đầu ngọn gió. Bạn cũng nên mua trái bắp nướng nóng hổi của người bán rong bên vỉa hè, vừa đi vừa lẩy từng hạt bỏ vào miệng, vị ngọt ngào và dẻo quánh của từng hạt bắp mới hái ngon mộc mạc mà đằm thắm như tình quê hương. 

Bạn cũng đừng quên ông già bán đậu phộng rang của Ðà lạt. Ông nầy có tài rang đậu phụng thật khéo, thật dòn, thật nóng mà lớp vỏ nâu nâu vẫn còn nguyên. Một đặc điểm khác là trông ông rất nghệ sĩ, điển trai kiểu tài tử gánh xiếc, lúc nào cũng đóng bộ quần áo của ông bầu đoàn xiếc, chiếc nơ không khi nào thiếu trên cổ và nụ cười không khi nào vắng trên môi. Ông thường đeo thùng đậu phụng rang trước bụng bán trong các rạp hát Ngọc Lan, Ngọc Hiệp, Hoà Bình, sau đó ông đeo thùng đậu phụng đằng sau xe đạp, rảo quanh khắp các phố chính, nơi nhiều du khách qua lại với tiếng rao khàn khàn đục đục: "Ðậu phụng don don, đậu phụng dòn dòn đây..."

Ðêm đã khuya, bụng đã đói, mời các bạn ghé đường Trương vĩnh Ký, sau lưng nhà hàng khách sạn Thủy tiên. Nơi đây bạn tha hồ chọn món ăn: Một tô cháo lòng hay phở xào bà Béo, miến gà Thủy Tiên hay mì hoành thánh chú Ba, một bát chè trứng vịt hay chè chế-mà-phủ, chè kê... của cô Tàu dễ thương ngọt ngào không kém chi chè của cô ta... Những thức ăn bình dân ở đây cam đoan với bạn nấu không thua gì nhà hàng Chic Shanghai hoặc Sơn Nam, Nam Kinh...

Ngoài thắng cảnh, khí hậu, Ðà lạt còn nổi tiếng vì là nơi toạ lạc của trường Võ bị Quốc gia và Ðại học Chiến tranh Chính trị, nơi đào tạo những thanh niên ưu tú của đất nước. Những ai từng dự lễ mãn khóa tại trường Võ bị, chắc chắn không thể quên hình ảnh oai hùng của Sinh viên Sĩ quan Thủ khoa lúc bắn bốn mũi tên đi bốn phương, tượng trưng cho chí tang bồng hồ thỉ; cũng như không thể quên được lễ Ðeo Nhẫn và đêm Chiêu hồn Tử sĩ.

"Lắng nghe chiều xuống thành phố mộng mơ,
màu lam tím Ðà lạt sương phủ mờ,
từng đôi đi trên phố vắng
bước chân êm giữa không gian hoàng hôn của màn đêm..."

Bản nhạc gợi nhớ khôn nguôi đến Thanh Tuyền, người ca sĩ nổi tiếng của Ðà lạt mà tiếng hát vẫn còn réo rắt từ hải ngoại đến quốc nội. Rồi Lệ Khánh với thi phẩm "Em là gái trời bắt xấu" giờ đang lưu lạc nơi đâu?... Hỡi những nữ sinh Bùi Thị Xuân, nam sinh Trần Hưng Ðạo, các bạn Trí Ðức, Văn Học, Việt Anh, Lycée Yersin, Couvent des Oiseaux... giờ này các bạn đang ở đâu, có nhớ về Ðà lạt với bao nhiêu tiếc nuối như tôi? Rừng Ái Ân, hồ Than thở, vườn Bích câu... nơi hẹn hò của bao nam thanh nữ tú. Thung lũng Tình Yêu bên bờ hồ Ða thiện với đường vòng Lâm viên, cùng bạn bè thi đua đạp xe leo dốc nhà thờ dựng đứng. Rồi sân Cù, thác Cam ly ầm ầm đổ, đèo Prenn với những bờ đá cheo leo phủ đầy hoa rừng vàng tím, đập Suối Vàng với làn nước lúc nào cũng óng ánh vàng, Giáo hoàng Học viện với thư viện đồ sộ lớn nhất Ðông Nam Á, dòng tu Ðông Các Cô (Don Bosco) mà chỉ toàn các thầy với tiếng thánh ca chiều nào cũng vang dội một góc Ðà lạt...

Giờ đây Ðà lạt đã nghìn trùng xa cách. Kể từ khi lọt vào tay cộng sản, Ðà lạt mất hẳn địa vị thành phố du lịch mà bị hạ xuống thành một thị trấn cao nguyên bé nhỏ. Những vườn hoa của những ngôi biệt thự được thay thế bằng những luống lang và vài hàng rau húng rau răm trông thật rất tội nghiệp. Những ngôi nhà nguy nga, đẹp đẽ xưa kia nay trở thành những khu nhà tập thể, cán bộ nuôi heo gà trong phòng ngủ, quần áo phơi la liệt trước ban công, trên sân thượng... Tất cả mọi nẻo đường đã vắng bóng những chiếc áo dài tha thướt. Nhìn đâu cũng thấy cảnh tiêu điều tang thương.

Ðến năm 1987 nhà nước cộng sản cho tu bổ nâng cấp trở lại làm thành phố du lịch hầu thu hút ngoại tệ, biết bao giờ Ðà lạt mới lấy lại phong độ xưa!!!

VI SAO
Bản Tin VHV số 22 tháng 10-1995

BACK TO TOP  


HOA VẪN NỞ 
TRONG RỪNG THÔNG ÐÀ LẠT 

LÊ NGUYỄN 

Sau cơn loạn ly tan tác, tôi quyết định trở về với Ðà lạt. Trở về trong những cơn mưa tháng năm, thành phố im lìm chìm đắm trong sương chiều, trong lòng thấp thỏm bồn chồn... cho dù đã biết rằng sống trong chế độ Cộng sản khét tiếng hà khắc này không dễ gì thấy lại được tia nắng hồng với mảnh trời xanh trong như lụa của Ðà lạt; không dễ gì được thả bước chầm chậm trên làn cỏ mượt mà lộng gió của đồi cù mà thả hồn bay bổng lên trên mấy tầng mây, vơ vẩn đó đây tưởng mình như cánh diều trong gió... không dễ gì được ngồi ở Thủy tạ, trước ly cà phê nóng, bốc khói thơm ngát, khi chiều về chầm chậm - không ở nơi nào có được hoàng hôn như Ðà lạt - có lúc sương mù bao phủ dày đặc chỉ thấy một mình ta trong tĩnh mịch... đâu đó có làn khói thơm Seventy Nine phảng phất... không dễ gì được cầm lại viên phấn trắng trước những đôi mắt trong xanh đầy tin tưởng nhìn vào cuộc đời!Mà hoàn cảnh bắt tôi phải cầm chắc cán cuốc! lập lại cuộc đời: cuộc đời của một nông dân, với một mảnh vườn xác xơ cỏ mọc!

Có những buổi trưa nắng đổ, mồ hôi nhễ nhại, chống cuốc nhìn trời, trong bụng xót xa lưng bát bo bo từ sáng. Nghĩ mình không phải tệ: trong tử vi đẩu số rành rành có Văn xương Văn khúc, Tả phù Hữu bật, có Tử vi cư ư mạng mà sao lại chống cuốc đứng đây?!

Có những chiều thân xác rã rời vì: "lao động là vinh quang" chờ tắt mặt trời để bò lên mấy rò khoai, rò đậu của mình để xới trộm đem về... vì trồng đến đâu đã có nhà nước kiểm kê thu mua đến đó mà giá tiền thì chưa đủ để mua bo bo ăn ngày hai bữa thay gạo! Sau khi đã trộm được hoa lợi của mồ hôi sức lực của chính mình, tối về phải thức để cắt, tỉa, bó, rửa... cho ra khoai ra đậu để đem bán chợ đêm. Chợ đêm là chợ họp lúc một giờ khuya đến ba giờ sáng, ngay đầu cầu ông Ðạo của các nhà vườn "ăn cắp" hoa lợi của chính mình đem ra bán chui. Con buôn cũng nhân đó mua đóng bao bì đưa lên xe chạy chui về các tỉnh miền xuôi, may lọt qua được các trạm thì ăn mà bị chận lại thì coi như "bỏ của cứu lấy người" mà thôi!

Thế rồi chẳng bao lâu, đất đai máy móc đi vào "tập thể", tôi đành buông tay... Bạn tôi có đứa nói với tôi:

- Tại mầy tỏ ra ta đây khoa học kỹ thuật, kế hoạch nầy với kế hoạch kia! trồng trái mùa bán theo thời điểm! bán chui ban đêm! Tớ thì cứ tà tà đào hốc trồng cây ăn trái về lâu về dài, lẫn với khoai lang khoai môn, đào ao thả bèo. Ai hỏi? Trồng rau cứu đói, thả bèo nuôi heo! Ba bốn năm sau là tớ có vườn cây ăn trái, ao sâu đầy cá, làm sao mà đếm mà đo để đóng thuế hay thu mua?

Thế mà đúng như lời bạn tôi nói. Bốn năm sau vườn cây ăn trái rất là tốt tươi, xanh um trĩu quả, có quy củ, có năng suất. Rồi một hôm, trời đã về chiều, nó đến nhà kéo tôi đi uống rượu. Nhâm nhi ly rượu, nó nói với tôi trong nước mắt:

- Mất hết rồi!
Tôi bỡ ngỡ hỏi:
- Mất cái gì?
- Cả khu vườn nhà coi như đi đoong vì thuế vụ, nhà đất chúng nó hỏi tớ giấy tờ đất nhà. Tớ đưa ra đầy đủ không thiếu thứ gì: giấy phép khai khẩn đất hoang, giấy phép làm nhà làm trại, có dấu tròn dấu nổi, có cả ngôi sao đỏ lòm... thế mà chúng nó cứ cằn nhằn...
- Sao lại cằn nhằn, cằn nhằn cái gì nữa? Tôi hỏi.
- Chúng nó bảo: "Anh có đầy đủ giấy tờ của chính quyền cho phép, anh có đầu óc khoa học tay nghề nên có được vườn cây ao cá rất tốt, lợi nhuận cao. Anh làm như vậy hợp pháp, anh đúng, nhưng... nhưng anh phải có cái giá bảo vệ cái đúng của anh!"

Tôi tá hỏa: ai ngờ chúng nó xuất thân là bần cố nông, chẳng tốt nghiệp cái kinh tế luật pháp nào cả mà nói được một câu hay quá! Câu này đáng tô son mạ vàng đặt lên bàn thờ thuế vụ của một chế độ... tham nhũng. Hay hơn cả câu thường nói của bạn tôi: "Luật pháp nhà nước thì như đá. Luật dân thì như nước. Ðá chắn thì nước lách"! Ðấy, chúng nó tát cạn thì hết lách.

Bạn tôi chịu không nổi cái "giá bảo vệ cái đúng đó" cứ phải luôn luôn... "bảo vệ", cạn kiệt, đành gạt nước mắt từ giã Ðà lạt thân yêu trôi nổi kiếm ăn ở một miền xa lạ nào đó rồi!

Người ta thường vỗ ngực tự hào ba đời chống: Chống phát xít, chống thực dân, chống Mỹ... Tôi và bạn tôi thì đã hết một thời chống... chống cuốc!!!

Lại có một kỳ tôi thường đến chơi với một anh bạn già, trước cũng là giáo sư triết học, để tâm sự và vấn kế:

- Nhà cửa, vườn tược của tôi bị nằm trong vùng quy hoạch, đã được thông báo để bán cho nước ngoài.
Ông ta cười hề hề:
- Sân cù, Palace, Dinh Một, Dinh Ba còn bán được huống hồ mảnh đất khu nhà của cậu.

Ông dừng lại ra dáng suy nghĩ lâu lắm rồi tiếp:
- Tại cậu ưa chỗ phong cảnh hữu tình, thơ mộng. Cậu đã thấy chưa? Cái hại của cái đầu óc "tiểu tư sản" của cậu chưa? Như tớ đây nhà tranh vách đất ở xó núi, rừng thông này có ma nào dòm ngó tới đâu? Khoẻ re...

Ê chề về cuộc sống, một hôm tôi mò đến thăm ông bạn già triết học của tôi trong xó rừng thì gặp ông ta đang nóng giận. Tay tôi cầm chai rượu định tìm nơi yên tịnh để cùng với bạn già nhâm nhi, ai dè thấy ông bạn như vậy cũng chưa hiểu tại sao?

Thì ra vườn nhà ông trong xó núi bị một bọn người "ÐÀNG NGOÀI" vào chặt rụi cả đám thông: cây lớn thì xẻ gỗ, cây nhỏ cũng hạ luôn làm cột nhà, làm củi. Trước cảnh tiêu điều xác xơ của rừng thông mới hôm nào đây còn reo với gió, mượt mà êm mát, tôi đâm ra ngẩn ngơ...

Còn đâu những rừng thông xanh mượt ngát lừng hương nhựa; còn đâu nữa những phấn thông vàng trong gió nhẹ; còn đâu nữa tiếng thông reo, óng ánh những chiếc kim bạc trên nền trời mây trôi... Còn đâu nữa những đồi thông êm mát... nay lác đác tiếng chim kêu không chỗ đậu! 

Tôi chợt tỉnh!!! Nghe tiếng ông bạn già rì rầm trong gió:

- Cậu thử xem, tớ đi xuống phường, lên tỉnh kiện. Tụi nó bảo: "Ông cụ có kiện đi đến đâu cũng thua thôi vì những người đó đều là con... liệt sĩ! Hơn nữa đó cũng là vùng quy hoạch bán cho nước ngoài.

Tôi thả rơi chai rượu từ lúc nào chẳng rõ, vẩn vơ trong đầu óc: "Chế độ này chưa để mất nước nhưng đã để mất đất." Phá rừng, cán bộ xây cất nhà. Phá nhà dân trồng lại rừng!!!

Bên cạnh tôi một gốc thông non vừa bị chặt đốn đang rỉ nhựa... một cụm hoa quỳ bị dày xéo tan nát nhưng vẫn còn một cành hoa nở vàng tươi như thách đố! Tôi bỗng cảm thấy mình như có một làn hơi nóng chạy vào tim và tin tưởng thành phố thông reo ấy hoa vẫn còn mãi mãi nở rộ.

Ðà lạt ơi! Muôn thuở vẫn là em Ðà lạt vẫn đẹp, vẫn đáng yêu trong lòng người Ðà lạt.

LÊ NGUYỄN
Bản Tin VHV số 25 tháng 9 - 1996

BACK TO TOP  

 

ĐÀ LẠT 
MỘT THIÊN ĐÀNG ĐÁNH MẤT

VI KHUÊ - CHỬ BÁ ANH

 Lúc bấy giờ nơi đây là một miền đất hoang vu vô cùng bí hiểm, chưa hề biết đến dấu chân người. Núi non điệp điệp, thác lũ ào ào; gió, như hồn ma, rú lên từng hồi ghê rợn giữa muôn trùng bát ngát. Cọp ngồi chồm hổm thở phì phò dưới rặng cây, rắn lê la trườn mình trên cỏ dại, voi từng đàn nối đuôi nhau lầm lừ trong lặng im. Hoang dã bao trùm cảnh vật. Một vài bộ lạc thiểu số đã dựng chòi dưới chân núi xa xa, nhưng hình thù quái dị của thổ dân trần trụi đứng lom khom với trên vai một cái gùi, chỉ càng tăng thêm vẻ man rợ đến rợn người.

Lúc bấy giờ là vào thời khoảng 1890-1894 và nơi đây là miền rừng núi dọc dãy Trường Sơn từ phía Bắc Nam Kỳ đến phía Nam Trung Kỳ và Hạ Lào.

Dãy Trường Sơn đó, quê ta, nơi đã từng ghi dấu lẫy lừng bao chiến công gian khổ, cũng là nơi lúc bấy giờ, sức quyến rũ đã thu hút lại, đã mời gọi đến một danh nhân từ phương trời xa thẳm, mà sau này mãi mãi muôn đời tên tuổi gắn liền với địa danh thơ mộng hàng đầu của Việt Nam: cao nguyên Lâm Viên. Và tên người: Alexandre Yersin.

Vâng, Alexandre Yersin chính là người đã khám phá ra, đã tạo dựng nên thành phố Đà Lạt, đệ nhất thắng cảnh của Việt Nam Cộng Hòa. Vốn gốc người Pháp, sinh trưởng tại Thụy Sỹ, Yersin tốt nghiệp bác sĩ y khoa tại Pháp. Danh tiếng vang lừng khi mới chưa ngoài 26 tuổi. Bởi tinh thần cầu tiến và tâm hồn ưa phiêu lưu mạo hiểm, tiếng gọi của miền thuộc địa xa xôi đưa đẩy bước chân nhân tài trẻ tuổi đến đó, để rồi không có ngày về. Bác sĩ Yersin sang Đông Dương một ngày đẹp trời năm 1889, làm việc cho hãng tàu Messageries Maritimes. Đi đây về đó theo những chuyến tàu lênh đênh ngoài biển cả, không nơi nào đã cám dỗ tầm mắt yêu thiên nhiên hùng vĩ chàng bằng rặng Trường Sơn, được nhìn thấy từ bờ biển Nha Trang cát trắng. Lập tức những cuộc hành trình thám hiểm được thực hiện không ngại ngần: đường bộ bằng hai chân từ Nha Trang vào Phan Rí, và rồi lại dong thuyền buồm từ Phan Thiết ra tới Qui Nhơn. Đi như vậy, một bóng một thuyền, một người một ngựa, giữa miền đất lạ hoang vu. Chúng ta ngày nay phải giật mình tưởng tượng đến điều kỳ thú lạ lùng đó, và, bởi lòng yêu mến ân nhân của những người mến yêu Đà Lạt, chúng ta muốn thầm hỏi rằng: Phải chăng Yersin là một thi sĩ? Thi sĩ của thiên nhiên và của hoang vu? Mà hoang vu ở đây không phải chỉ có trấn, có đèo, có đồi mùa hạ, có đồi cỏ may, có cồn hoang dã, có bến lau thưa hoang vu, ở đây còn là: rừng sâu, nước độc, thú dữ và... mọi ăn thịt người nữa kia. Cho nên trên con đường phiêu lưu mạo hiểm, nhà bác học trẻ tuổi của chúng ta đã, một lần, vào năm 1893, bị cướp chém đứt nửa ngón tay cái và đâm nhiều nhát vào ngực tại Dran; một lần khác ông suýt bị voi chà, và nhiều lần nữa ông đã đối diện với cặp mắt tóe lửa của cọp rừng già ngồi chơi trên mỏm đá. Ông như không mảy may quan tâm đến muôn vàn đe dọa thử thách, vì còn mải say sưa ghi chép tỉ mỉ địa thế các nơi đã đi qua. Từ con suối mọn đến dòng sông xa, từ nhánh cỏ gầy đến búp hoa dại không tên đều được ông nhìn ngắm kỹ. Ông hòa mình với thổ dân để tìm hiểu về phong tục và khả năng kinh tế từng miền.

Vào năm 1893, bác sĩ Yersin tìm ra Cao Nguyên Lâm Viên, thuộc phía Nam dãy Trường Sơn, khi ông phóng tầm mắt nhìn ra cảnh thiên nhiên hùng vĩ ở độ cao cách mặt biển 1.500 thước. Vào năm 1897-98 tại vùng đất khí hậu hiền hòa nước non xanh ngắt này, đã dựng nên một thành phố nghỉ mát và dưỡng bệnh lý tưởng do đề nghị của bác sĩ Yersin lên toàn quyền Doumer.

Đó là thành phố Đà Lạt, khởi thủy chỉ là một diện tích không mấy rộng mang tên một giòng suối nhỏ của bộ lạc người Lát.

Bác sĩ Yersin yên nghỉ giấc ngàn thu tại Nha Trang ngày 1 tháng 3 năm 1943, trong khi thành phố thơ mộng do ông khai phá và tạo dựng không ngừng lớn lên, không ngừng phát triển, không ngừng thăng hoa... Nhưng chỉ vào năm 1923 trở đi, thời kỳ phát triển trở mình của Đà Lạt đã thực sự trở nên một thành phố mới bắt đầu. Trước tiên là sự tạo lập Hồ Lớn Đà Lạt sau này là Hồ Xuân Hương, một chiếc hồ nhân tạo rộng chừng 4.5 ha. Rồi thì sau đó các ngôi trường học lịch sử đầu tiên mang tên người khai sinh thành phố: Lycée Yersin. Rồi thì những trục lộ giao thông, những nhà máy điện, nhà máy nước, hàng trăm biệt thự kiến trúc Tây Phương. Nhà thờ lớn Đà Lạt, các ngôi chùa Linh Sơn, Linh Phong, khu chợ Ấp Ánh Sáng. Giai đoạn phát triển về mọi phương diện là vào năm 1944. Nhưng mãi đến sau hiệp định Genève (20/7/54). Với sự ra đi vĩnh viễn của người Pháp khỏi Đông Dương, Đà Lạt mới thực sự chuyển mình để trở nên một thành phố Việt Nam của người Việt Nam.

Trong bao nhiêu năm dài, Đà Lạt đã là một nơi mời gọi, quyến rũ, thu hút người khắp nơi trong nước, cũng như du khách ngoại quốc đến thăm viếng Việt Nam. Trong tâm tưởng mọi người, Đà Lạt là thành phố của thơ của mộng, thành phố của sự Thoải Mái và Nghỉ Ngơi, một trung tâm du lịch và văn hóa. Cho đến tháng 4/75, thời kỳ biến cố lịch sử trọng đại gây nên vật đổi sao dời, những ai đã từng sinh sống lâu năm tại miền đất an bình này mà nay đã ra đi hay còn ở lại, hẳn không bao giờ quên được những tên phố, tên đường, tên trường, tên chợ, tên hồ, tên cầu, tên khách sạn, như một lần ghé lại đã đi qua còn khắc sâu muôn vàn kỷ niệm. Kỷ niệm về kỷ niệm. Kỷ niệm về một thiên đàng - nếu có thể lộng ngôn như vậy - trong cái nghĩa thực tế rằng nơi đây đã từng đem lại cho người dân một đời sống đầy đủ tiện nghi vật chất và bình an tâm hồn, dẫu rằng về phương diện kinh tế, thành phố văn hóa và du lịch này không ở tầm quan trọng đáng kể.

Chỉ cần nhắc lại những tên thôi, những tên khắc vàng trên các bảng hiệu, cũng đủ làm rộn lòng bao kẻ nhớ thương về thành phố quê hương này và cũng đủ cho chúng ta hình dung ra sinh hoạt tấp nập tươi vui đến thế của một thành phố nhỏ, trong hàng trăm thành phố của miền Nam trước ngày 30 tháng 4 đổi đời. Những ai đã đi từ Đà Lạt, hôm nay xin hãy làm du khách trở về thăm viếng thành phố xưa! Trước tiên, tôi xin giới thiệu các khách sạn lịch sử: Đà Lạt Palace trông ra Hồ Xuân Hương, Mimosa đường Phan Đình Phùng, Thủy Tiên số 7 Duy Tân, Duy Tân 83 Duy Tân, Mộng Đẹp khu chợ Mới, Sans souci đường Nguyễn Trường Tộ, Cảm Đô đường Phan Đình Phùng.

Và các khách sạn bình dân: Phú Hòa, Vinh Quang, Hòa Bình, Nam Việt, Tinh Tâm, Cao Nguyên, Thanh Ngọc, Thanh Tung, Lữ Quán Sài Gòn, Văn Huê và Lâm Sơn...

Sau các khách sạn, hẳn quý vị cần biết đến các nhà hàng, các tiệm ăn. Thưa đây là các nhà hàng sang trọng nhất: Dalat Palace, Chic Shangai, Mê Kông, Nam Sơn và Thiên Nga, Mỹ Quang, Như Ý, Kim Linh. Bình dân hơn trên những con đường khác. Nhà hàng lịch sự, đặc biệt về món ăn Pháp là Dalat Palace, L'eau vive, đặc biệt về các món ăn Việt, xin mời quý vị đến quán năm Vinh Hòa, số 7 đường Cường Để, có thịt bò 7 món. Nhà hàng bình dân, đặc biệt về các món ăn Việt Hoa là Đông Hải ở khu Hòa Bình với các món bánh bao rất được ưa thích. Tiệm ăn đặc biệt về món Bắc, có Mỹ Hương và Bắc Hương khu Hòa Bình; về các món Huế là các tiệm ở đường Hàm Nghi và Thành Thái. Ngoài ra còn rất nhiều quán bình dân nữa, đáng kể là quán Thanh Phương ở đường Võ Tánh, giá cả rất thích hợp với các thực khách không nặng túi tiền. Ngoài các hàng cơm sang trọng hay bình dân, chúng ta còn vô số món ăn “dân tộc” rất được tán thưởng. Xin được nhắc lại một lần các tiệm bán các món đặc biệt và hấp dẫn ấy, và mong rằng quý vị, các bạn - nhất là các cô hay ươn mình không thích xơi cơm đừng quá... nhớ nhung!  Tiệm phở Bằng, đường Hàm Nghi, Tùng, Đắc Tín khu Hòa Bình, Ngọc Lan bến xe Đà Lạt Saigon. Như Ý đường Nhà Chung; Bắc Huỳnh và Phi Thuyền trước ga Đà Lạt, hủ tiếu Nam Vang, đường Minh Mạng. Mì vịt Thạnh Ký đường Phan Đình Phùng, mì quảng: quán cạnh rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp, các quán tầng dưới Chợ Mới; và một quán nằm khuất trong hẻm đường Hoàng Diệu, trước trường Văn Học. Bún riêu, bún ốc ở tiệm Thành Công, đường Nhà Chung. Bún bò giò heo: Các tiệm ăn Huế hầu hết đều có món này, nhưng khi nói đến bún bò, người ta thường nghĩ đến quán cây số 4, góc đường Hai Bà Trưng và La Sơn Phu Tử. Món Nai đồng quê - tên gọi thanh nhã là món của thịt cầy - được tìm thấy ở quán Lá Mơ, đường Thành Thái; món thịt dê ở quán Ngọc Dung, Hồ Than Thở, gần bến xe Chi Lăng. Ngoài ra còn rất nhiều quán bình dân nữa: lưu kỷ niệm nhiều nhất phải kể hàng đầu là dãy quán trước đường Đoàn Thị Điểm, đường Trương Vĩnh Ký, với hàng xôi gà, cháo gà “ngon nhất nước” của gia đình ông Hà Đức Bản, xe mì bánh tôm “ngon hết xẩy a” của chú Tàu nhẫn nại cần cù, xe chè 6 món thơm phức của hai cô nữ sinh trường Tân Sanh, quán cháo lòng nóng hổi và ngọt lịm của mẹ con cô Ti đon đả chào mời...

Về phần các cô cậu thuộc lứa tuổi ô mai thích khoác áo lạnh đi tìm gặp các bạn bè để... sưởi ấm lòng nhau, thì quán chè, tiệm kem và quán cà phê là những nơi thích hợp nhất, quán chè Tuổi Ngọc, tiệm kem Việt Hưng, các quán cà phê Tùng, Trúc, Tình, Nhớ, Trăng Cao Nguyên, Yêu, Thủy Tạ, Shanghai và Mê Kông là nơi thuận tiện nhất để họ và cả lớp người lớn tuổi hơn thường ngồi lặng hàng giờ nhìn ra khu phố chính của thành phố ngắm các tà áo bay... hay luận đàm thế sự?

Khách sạn và nhà hàng ăn là những nơi du khách cần phải biết trước tiên, khi đặt chân đến một thành phố. Nhưng hẳn là còn vô số điều quý vị cần được hướng dẫn và giới thiệu thêm nữa, trên bước nhàn du đến cõi... bồng lai này, bởi vì nhu cầu của con người sau khi no cơm ấm áo còn nhiều thứ lắm, mà thành phố của chúng ta thì lại đã từng chứng tỏ có khả năng đáp ứng... mọi nhu cầu của kiếp nhân sinh! Thiết tưởng còn gì thực tế hơn - về phần chúng tôi - là xin gửi đến quý vị nguyên bản kê khai tất cả các địa điểm quý vị cần dùng tới.

Các phòng tắm nước nóng: Ninh Thuận, Việt Trang, Minh Tâm, phòng uốn tóc Mô Đéc, Hoàng Cung, Mỹ Dung, Tường Lan, Isana, Cô Sương, Người Ảnh. Phòng khám bệnh bác sĩ Phan Lạc Giản, BS Hoàng Khiêm, BS Nguyễn Văn Thạnh, BS Nguyễn Đình Thiều, nữ BS Nguyễn Ngọc Diệp, BS Đào Duy Hách, BS Mai Trung Kiên. Tiệm thuốc tây: Đà Lạt, Nguyễn Văn An, Hàm Nghi, Duy Tân, Diên Hương, Nguyễn Duy Quang, Lâm Viên. Phòng chữa răng: nha sĩ Võ Thị Sâm, NS Minh Đa, NS Trần Tú, NS Nguyễn Văn Trình. Văn phòng luật sư: LS Hoàng Huân Long, LS Ngô Tằng Giao, LS Phùng Văn Tuệ. Các rạp chiếu bóng Hòa Bình, Ngọc Lan, Ngọc Hiệp. Vũ trường La Tulipe Rouge, Đào Nguyên.

Hẳn nhiên không phải chỉ thuần bằng những tiện nghi vật chất mà đời sống con người trở nên đáng sống, mà Đà Lạt đã có khả năng mời gọi, quyến rũ những tâm hồn. Khi người ta nói Đà Lạt thơ mộng, Đà Lạt thành phố du lịch, thành phố văn hóa... thì không phải phở Ngọc Lan hay nem Ninh Hòa đáng được nhắc nhở hàng đầu, mà phải là, trước tiên, các cơ sở phục vụ nhu cầu tinh thần và trí tuệ của người dân địa phương: các trung tâm văn hóa.

Nhắc lại rằng Đà Lạt là một Trung Tâm Văn Hóa quan trọng vào bực nhất với sự hiện diện của những trường Đại Học phong phú về phân khoa và mới mẻ về đối tượng nghiên cứu như: Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Trường Chính Trị Kinh Doanh thuộc Viện Đại Học Đà Lạt, Đại Học Quân Sự, trường Võ Bị Quốc Gia, Giáo Hoàng Học Viện...

Ngoài ra, còn phải kể: Trường Chỉ Huy và Tham Mưu, Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Trung Tâm Văn Hóa Mỹ... Và, còn gì đáng kể làm nên sinh hoạt tinh thần, trí tuệ của thành phố, ngoài các cơ sở văn hóa lớn lao kia? Hẳn nhiên là các ngôi trường, ở đây chúng tôi chỉ xin nhắc lại những trường trung học, mỗi trường một màu sắc đồng phục cho học sinh, nói lên đặc điểm riêng như tên trường đã chọn: trường Trần Hưng Đạo, trường Bùi Thị Xuân, trường Quang Trung, Bồ Đề, Trí Đức, Văn Khoa, Việt Anh, Adran, Trung Tâm Giáo Dục Hùng Vương, trường Tân Sanh, Minh Đức, Kỹ Thuật La San, trường Domaine de Marie, trường Thương Mại, trường Phổ Minh, trường Nông Lâm Súc, trường Chi Lăng... Và còn các hiệu sách nữa chứ! Không có sách lấy gì đáp ứng nhu cầu tình cảm và tư tưởng của Đà Lạt hiền hậu, ưa thu mình trong chăn ấm nghe tiếng nói của nội tâm? Cho đến năm 1975, Đà Lạt có những nhà sách nổi tiếng như: Liên Thanh, Thiên Nhiên, Nhân Văn, Hòa Bình, Thiên Hương, Tuyên Đức, Hồng, Khải Minh, Minh Thu, Khai Trí...

Và khi người ta nói Đà Lạt thơ mộng, Đà Lạt thành phố du lịch và gọi về Đà Lạt như một thiên đường đánh mất thì không phải là Viện Đại Học hay Nguyên Tử Lực đáng được tuyên dương hàng đầu, mà phải là các danh lam thắng cảnh. Hồ! Rừng! Thung Lũng! Thác!

Hồ là hồ Than Thở, rừng là rừng Ái Ân, thung lũng là thung lũng Tình Yêu! Còn nơi nào trên thế giới hồ, rừng và thung lũng mang tên “người” như thế nữa không? Hồ Xuân Hương lớn nhất, nằm ngay trung tâm thành phố. Hồ Than Thở cách Đà Lạt 5 cây số. thung lũng Tình Yêu, thung lũng chìm sâu xuống trong những sườn đồi thẳng đứng và cao thăm thẳm. Thác Cam Ly, thác Datangla, thác Liên Khương, thác Pongour và thác Prenn, nổi tiếng nhất cách Đà Lạt 10 cây số. Suối Vàng, suối Bạc, suối Tía...

Và còn phải kể là thắng cảnh những con đường xinh đẹp mang tên thơ mộng ít nhiều: đường Quang Trung, đường Phạm Phú Quốc, đường Trần Hưng Đạo, đường Lê Thái Tổ quang đãng chạy dài giữa hai hàng thông xanh sừng sững, đường hoa hồng vang bóng một thời, đường vòng Lâm Viên, còn gọi là đường ngoạn cảnh... Và còn phải kể là thắng cảnh những dinh thự và biệt điện khuất mình sau rặng thông xao xác hay nằm hoang vắng giữa cỏ hoa tịch mịch, gợi cho người nhớ chuyện liêu trai: Dinh số 1, Dinh số 2, Dinh số 3! Và Viện Đại Học với giàn hoa giấy màu tím hồng rực rỡ quý phái đón chào nam nữ sinh viên tự cổng vào, từ nơi văn phòng, dẫn tới những con đường rộng sáng, mở ra những giảng đường của mỗi phân khoa, và Giáo Hoàng Học Viện với cảnh rộn ràng, trai thanh gái lịch, đến thưởng ngoạn chụp hình kỷ niệm trên lớp cỏ non tơ, ai dám bảo rằng đây chỉ là những cơ sở văn hóa hay tôn giáo mà không phải là những cảnh đẹp kiều diễm nhất của quê hương? Và Chợ Mới Đà Lạt, khu chợ ba tầng lầu kiến trúc tân kỳ vào bậc nhất Đông Nam Á, vào những ngày tưng bừng nhất trong năm như ngày mãn khóa sinh viên trường Võ Bị Quốc Gia, Lễ Giáng Sinh và những tuần lễ cận Tết, thì chính là thắng cảnh số 1 đón tiếp hàng ngàn người từ bốn phương trẩy về dự hội.

Ờ mà làm sao có thể nói đến danh lam thắng cảnh mà lại bỏ xót những vườn hoa, phần nhan sắc nhất của nhan sắc, phần thơ mộng nhất của thơ mộng? Hỡi người ra đi từ Đà Lạt! Xin hãy nhắm mắt lại và tưởng tượng đến những vườn hoa: Vườn hoa thành phố trên đường Hồ Xuân Hương, vườn Rosadola đường Phan Đình Phùng của ông bà Nguyễn Hữu Vinh, vườn hồng đường Quang Trung của phu nhân họ Từ, và một vườn hồng nổi tiếng nữa ở đường Trần Hưng Đạo - Nguyễn Gia Trang - ... - Vườn Bích Câu, ngay dưới chân sân Cù, thấp thoáng bóng các chú nài cưỡi ngựa... hồng, lan, cánh bướm, lay-ơn, tú cầu... Nhưng đặc biệt là hoa Đà Lạt chỉ có hai loài, anh đào hồng phấn dịu dàng và mimosa vàng tươi rạng rỡ.

Đâu phải chỉ là sự tình cờ hay do ngẫu hứng mà những tên phố tên đường, những số nhà được nhắc lại như thế. Chỉ là mong làm sinh động lại trong trí nhớ người đi xa nửa vòng trái đất những kỷ niệm của quê hương. “Quê hương đẹp hơn cả” không hẳn vì quê hương đẹp, mà chỉ bởi quê hương đầy ắp tình người, tình anh em, tình đồng bào cùng đau chung nguồn lịch sử... Nhưng mà ở đây chúng ta đang nói về thực tế. Nói về Đà Lạt như một thiên đường trong cái nghĩa thực tế nhất; có cơm ăn áo mặc và những tiện nghi vật chất tinh thần. Vậy thì, ngần ấy tiện nghi vật chất và tinh thần, để phục vụ cho dân số không quá 130.000 người, hẳn nhiên là mức sống của người dân phải dễ chịu, dẫu rằng bên cạnh biệt thự Trang Hai cũng có căn nhà nhỏ của người giữ vườn, và để đánh móng tay cho người đẹp Kim Vui của Kivini, đường Minh Mạng, vẫn phải có cô thợ nhỏ 18 tuổi lương chỉ đủ ăn quà. Những bác tắc xi nằm ngủ gật những khi ế ẩm, chỉ cần một ngày đẹp trời du khách viếng thăm Đà Lạt tấp nập là cũng đủ bù lại những giờ chơi không. Ông Nghiêm Tỉ, nhà trồng trọt ở ấp Nghệ Tĩnh, tuy những năm tháng cuối của cuộc đời có vất vả vì hoa màu thiếu phân bón, với những tài sản tạo lập nghe đâu từ thuở Hoàng Triều Cương Thổ, gồm đất nhà vườn, cũng đã nuôi được đến trưởng thành một đàn con đông đúc, kẻ tốt nghiệp Cao Học Chính Trị Kinh Doanh, nguời Kỹ Sư Hàng Hải...

Đất nước ta trải qua cuộc chiến tranh dài ngót 30 năm tính đến tháng 4/75, là một quốc gia nhỏ và nghèo. Vậy mà trong một thời khoảng đáng kể, một phần dân chúng đã may mắn được hưởng một mức sống đầy đủ tiện nghi như vậy! Ngày nay trên đất nước người lưu lạc, nhìn lại sau lưng chúng ta không khỏi giật mình tiếc cho một thiên đường... đánh mất! Ngày xưa bà hàng xóm của tôi ở đường Nguyễn Du vốn có một hoàn cảnh để “đi mây về gió”, mỗi lần đi xa về lại kể chuyện nước ngoài cho bà con nghe. Ở Đông Kinh, ở Luân Đôn, ở Hoa Thịnh Đốn người ta sống như thế nào... Bà chép miệng: “Dân Việt Nam mình đang sung sướng mà không biết rằng mình sung sướng. Trên khắp thế giới ngày nay, chẳng có nơi nào hội đủ mọi thứ tiện nghi như Saigon. Người ta có thứ này không có thứ kia, còn mình có “đủ hết”. Dường như cảm thấy phản ứng nhẹ của người nghe, bà lại tiếp lời ngay: “Dẫu rằng không có đồng đều, nhưng có người ở biệt thự, có người gác dan, có người cần tài xế lái xe, có người được làm tài xế lái xe, có người đi mỹ viện sửa sắc đẹp, có cô gái quê ra tỉnh học nghề uốn tóc, đồng tiền cứ thế luân lưu tới mỗi người, còn hơn là không có gì hết”.

“Còn hơn là không ai có gì hết!” Còn hơn là bắt đầu lại từ con số không, thì tội nghiệp quá!... Từ sắc đẹp quyến rũ mãnh liệt của cảnh đẹp thiên nhiên miền cao nguyên Lâm Viên, và diễn tiến sự thành lập thành phố của chúng ta, như đã trình bày, cho đến ngày 30 tháng 4 năm 75, lịch sử, thời gian đi qua chưa đầy một thế kỷ. Ngắn ngủi quá cho một thành phố sinh ra và lớn lên, và trưởng thành. Và phù du làm sao! Khi mọi sự đã xảy ra như chớp nhoáng, mười năm trời trôi qua chưa đem lại thăng bằng cho não cân ta để trả lời câu hỏi: “Vì sao ta đã đành mất thành phố, vì sao ta đã mất quê hương?” Phải chăng vì, trong mục đích tìm kiếm thiên đường khả dĩ có được, chúng ta đã mất đi một thiên đường đã có? Thiên đường trong một nghĩa rất tương đối, rất hạn hẹp, cũng như hạnh phúc vốn chưa được định nghĩa rõ bao giờ.

Trên con đường tìm kiếm hạnh phúc, một thứ hạnh phúc tương đối mà con người có thể mưu cầu được cho mình, phải chăng với người dân Đà Lạt ngày nay, Đà Lạt ngày xưa đã là một thiên đường đánh mất?

VI KHUÊ - CHỬ BÁ ANH
Nguồn: SAIGON TIMES USA

BACK TO TOP  

 

ĐÀ LẠT: NIỀM THƯƠNG, NỖI NHỚ

KIÊM THÊM

NHẠT NHÒA TRONG TRÍ NHỚ:

Không biết bây giờ người em gái Đài Lạt còn nhớ đến tôi không? Còn có bâng khuâng khi hoa Anh Đào nở rộ, hay ngây ngất trước đóa lan rừng, tìm quên bên hồ Than Thở? Những người em gái Bùi Thị Xuân, màu áo thiên thanh, má ửng hồng, áo đan khép nép, một thoáng yêu thương vừa chớm nụ, đã đam mê "theo chồng bỏ cuộc chơi".

Và rồi Đà Lạt, còn có những chiều về chầm chậm, chuông chùa Linh Sơn vang tiếng kinh cầu, hay chỉ còn biết xót xa để quay nhìn lại Giáo đường im bóng?

Đà Lạt: Thành phố buồn.

Ở đây, đồi núi chập chùng, lối đi quanh co muôn vạn nẻo. Những lối mòn dẫn vào trong láng, trong "buôn" để đắm say nhìn nàng Sơn nữ ngại ngùng nhìn về Phố Thị. Đà Lạt có những chiều cuối tuần xuôi ngược, nôn nao tìm về một điểm hẹn hò, một giây phút gần gũi yêu thương, hay ngỡ ngàng trước một lời giã biệt.

Đà Lạt: Thành phố Tây phương. Những cô gái khép nép sau những ô cửa nhỏ, dáng dấp yêu trong lứa xuân thì, những chiều trốn học để dìu nhau trên đồi Monaine de Marie. Đà Lạt những đêm đốt lửa rừng; ngồi kề bên nhau tìm hơi ấm bên bếp lửa hồng, rồi hát vang giữa rừng khuya, chào mừng một Tráng sinh vừa lên đường, hay một thiếu nữ vừa tuyên lời hứa.

Một sáng khi tôi trở lại Đà Lạt một trời nở hoa: Hoa ty gôn, hoa Pensée, hoa Mimosa, hoa bâng khuâng, hoa tỷ muội, những giàn hoa thiên lý. Những chồi hoa lan đượm màu Vương giả trong những câu chuyện thần kỳ. Những đóa hoa rừng tưởng chừng như hồn hoa Thạch Thảo. Hoa anh đào những độ xuân về, màu rực rỡ "như môi hồng người mình yêu"...

Đà Lạt bây giờ chỉ còn những nhạt nhòa, lãng đãng trong tận cùng trí nhớ. Hồ Than Thở, rừng Ái Ân, vườn Bích Câu, đồi Kỳ Ngộ. Cô sinh viên Đại Học Chính Trị hay chàng trai Võ Bị Liên Quân. Chiều tím hay thung lũng hồng. Những thoáng ngất ngây nhìn "mắt em dìu dịu buồn Tây phương" hay mấy lần lạc loài nhìn lại "phố núi cao; phố núi đầy sương; phố núi cây xanh; trời thấp thật buồn..."

Cuối cùng, tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Đà Lạt là điểm cuối cùng của cuộc hẹn hò, và cũng là điểm khởi đầu của một tình yêu. Vì rằng khi khởi công tạo dựng nên thành phố lý tưởng nầy, người khai sinh nó, cũng đã chán ngán một câu chuyện tình của chính mình: Bác sĩ Yersin. Chuyện tình giết người trong mộng bên hồ Than Thở. Từ đó, Đà Lạt trở thành chất diễm tình cho khách lãng du khắp bốn phương trời. Không thể nào và không bao giờ đánh mất thành phố thần kỳ nầy trong niềm thương, nỗi nhớ.

KHỞI ĐẦU LÀ MỘT TÌNH YÊU:

Khi người tây phương đặt chân lên đất nước nầy, ghi lại những vết tích đầu tiên, thì đã khởi sự bằng những câu chuyện tình: lầu Ông Hoàng ở Phan Thiết và Hồ Than Thở ở Tây Nguyên. Sự lựa chọn các vẻ đẹp thiên nhiên, đầy thơ mộng, để điểm trang cho những câu chuyện tình sử của mình, thì âu cũng là duyên tiền định.

Thật ra, trên bước đường Nam tiến phiêu lưu của dân tộc ta, vùng trời Đà Lạt vẫn còn là miền đất xa lạ. Núi rừng hoang vu; quanh năm mây mù giăng mắc. Đâu đây, chỉ lác đác vài thôn ấp nhỏ, mấy chòi tranh thô sơ, và đóa lan rừng khép kín. Vào thời kỳ đó, đất Cao Nguyên vốn dĩ là trú xứ của một viên tù trưởng lừng danh (tên là Yagut); thôi thì tha hồ biên thùy một cõi hiên ngang, đội trời, đạp đất, thỏa chí bình sanh. Và con người đó đã cầm cân nẩy mực, gây sóng gió ở Tây Nguyên trải nhiều thế hệ, "gươm dần nửa gánh, non sông một chèo"

Mãi đến mùa thu năm 1897, thì mọi chuyện đã đổi thay. Đà Lạt cũng bắt đầu tạo dựng lên từ ấy. Khi nhà thám hiểm, cũng là một y sĩ tài ba, ông Yersin đặt chân đầu tiên đã suy nghĩ nhiều đến việc khai thác vùng nầy: Chủ đích của ông ta: Vừa lập thành một địa bàn chiến lược Tây Nguyên; lại vừa ước mơ khai khẩn vùng đất phún thạch phì nhiêu. Ông ta mang theo một người yêu, nữ hầu tước Luxemburg, như hình với bóng. Khi người con gái quá mệt mỏi trong tình trường, thì chỉ mong sao, có nơi an nghỉ thật êm đềm, sau những chuyến viễn du. Và Đà Lạt là nơi lý tưởng. Nàng đã thỏa nguyện. Đà Lạt ra đời, từ huyền thoại đó. Thực ra, Đà Lạt vẫn còn nhiều hấp lực lạ kỳ. Vào thời đó, viên toàn quyền đầy tham vọng, Paul Doumer, với tầm nhìn xa, đã suy nghĩ đến chương trình khẩn hoang lập ấp. Ông nhanh tay tạo dựng hai cơ sở chính: đài khí tượng và vườn ươm cây. Một đường giao thông huyết mạch nơi Đà Lạt với vùng hạ du, xuyên qua đèo Ngoạn Mục. Đà Lạt như một cô gái xuân thì, thu hút bao nhiêu cặp mắt xanh. Tây Nguyên cũng bướm ong từ độ ấy. Người phương Tây thường có lối nhìn nhiều tham vọng, khi viên toàn quyền Paul Doumer bị thu hút vì núi rừng Tây Nguyên, thì ông ta nghĩ đến chuyện về lâu về dài: Lập căn cứ, xây dinh thự, sau cùng là thiết lập cơ sở hành chánh địa phương. Thành phố đã an bài!

Đà Lạt bắt đầu điểm xuyết nhiều cảnh trí nên thơ: hồ Than Thở, rừng Ái Ân, vườn Bích Câu, đập Suối Vàng. Và trong cái bàng hoàng, thảng thốt của rừng cây nội cỏ, những khúc tình ca cũng đã bắt đầu:

Ai đó làm thinh chớ nói nhiều,
Để nghe dưới đáy, nước hồ reo,
Để nghe tơ liễu run trong gió,
Và để xem người giải nghĩa YÊU.

Cũng từ độ ấy, rừng Đa Mê thêm nhiều vườn hoa lan; phi trường Liên Khương dập dìu ong bướm. Sau đó, hồ Xuân Hương, thác Gougah, ghềnh Pongour, thật đã rào rạt chất trữ tình, khiến nhiều kẻ đắm mê "Nắng lên nhẹ, làm hồng môi em. Mắt em buồn, trong sương chiều anh thấy đẹp hơn."

Đà Lạt đã không dừng chân tại đó. Nơi đây đã nghiễm nhiên trở thành một trung tâm văn hóa, vùng trời văn học, nghệ thuật. Đà Lạt là nơi đào tạo những nhân tài đất nước về chính trị, về quân sự, về văn hóa. Đà Lạt cũng là bối cảnh của những thời kỳ trên sóng, dưới nước. Khi chính trị cuồn cuộn ở thủ đô. Những giây phút đó rồi cũng chóng qua, theo màu thời gian, để rồi trả lại Đà Lạt cho những cặp tình nhân, mộng mơ, hẹn hò, hoa bướm...

ĐÀ LẠT, THIÊN ĐƯỜNG CỦA KỶ NIỆM:

Khi Hàn Mặc Tử viết "Đà Lạt Trăng Mờ", để cố tìm về những nỗi xao xuyến ảo huyền đang quyện lấy hết sức cả một vòm trời thơ mộng vùng Tây Nguyên, thì cũng sực nhớ ra rằng: Mỗi một cành liễu rũ, mỗi giọt cơn sóng gợn, mỗi giọt sương khuya ở nơi đây, tất cả đã gói trọn một thứ yêu thương liêu trai, điên loạn.

Khi Nguyễn Thị Hoàng đắm say ôm chặt lại "Vòng Tay Học Trò", đam mê những phút thật cuồng si, xác thịt, bất chấp hết cả thị phi, bỉ thử; bất chấp mọi tiếng bất tiếng chì, thì cũng chỉ mong sưởi ấm lại con tim từng nồng cháy không chút dối gian, kiểu cách; điêu ngoa! Đời như mây khói: Uncertain sourire!

Khi Hoàng Nguyên đã nỡ bỏ Đà Lạt ra đi, với bao nhiêu khắc khoải, xót xa, thì cũng mong sao "Ai lên xứ Hoa Đào" ngày xưa của mình, để cố tìm lại nét diễm kiều, mắt môi của người mình nhớ, mình thương. Đà Lạt vốn là chất trữ tình. Người con gái Đà Lạt đã mơ mộng gì? Sau cái dáng hình khép nép đó? Hay là, chỉ ghi lại những vết hằn năm tháng của mong chờ, cuồng hận, si mê.

Khi Phạm Mạnh Cương tự mình ẩn dấu trong "Thung Lũng Hồng", sống tạm dung nơi núi rừng rét mướt, là cốt tìm lại những ai cùng "lận đận bên trời một lứa". Trước sau gì thì Đà Lạt cũng vẫn là vùng trú ẩn an toàn thật ấm nồng, thật say đắm cho những đôi tình nhân, sau khi đã trải qua bao nhiêu hệ lụy, ngược xuôi của cuộc đời?

Và cứ như thế, mà không biết bao nhiêu tác phẩm nghệ thuật dựng lên ròng rã mấy chục năm qua, cái bối cảnh Đà Lạt bao giờ cũng là "Thiên đường của hạnh phúc."

Một người bị tình phụ rồi ư? Một thiên tình sử não nùng, đắng cay ư?

Muốn lãng quên đi, thì hãy về chốn thiên thai ở Tây Nguyên, như Lưu Thần, Nguyễn Triệu?

Suốt ba chục năm chiến tranh ròng rã, bom đạn đã cày nát trên khắp cơ thể của đất nước, nhưng Đà Lạt vẫn cố lánh xa những lằn tên, mũi đạn, những cuộc tranh chấp thế nhân, những trò huyễn hóa tầm thường nhân thế, để nuôi dưỡng cho kỳ được cái dáng dấp thơ ngây, cao sang, kiểu cách cố hữu của mình. Và cũng chính thế, mà những chuyện đấu tranh, sóng gió dày xéo lên nhau, trong cảnh hý trường đa đoan, nếu trong chúng ta, có một ai nuôi cái tham vọng dựng lên cái bi kịch đó trong khung cảnh rừng núi nầy, thì đó chỉ là những trò hí lộng thật nhạt nhẽo, vô duyên. Phải trả Đà Lạt cho những nét kiêu sa, đài cát của nó. Phải nuôi dưỡng Đà Lạt bằng những huyền thoại yêu đương, cũng như cưu mang những nét đẹp Tây Phương rạng rỡ trên duyên dáng của nó. Như một thiếu nữ đoan trang, như người con gái ở lầu hoa, thì dù cho bao nhiêu mưa gió thế nhân, thì Đà Lạt muôn đời vẫn còn dáng dấp, hình hài khuê các.

Thực ra thì con người Đà lạt không ôm nặng cái nỗi niềm hoai cổ, thê lương, quyến luyến quá khứ, như trí thức kinh thành Thăng Long; cũng không hệ lụy những thứ kiểu cách khép kín, cổ tục, như các nàng thiếu nữ ẩn mình trong kinh thành Huế; lại càng không có những lối sống ồn ào, náo nhiệt, lan vào mưa gió cuộc đời, như con người Saigon hay chan hòa sức sống khỏe khoắn, tươi vui của miền Thùy dương cát trắng; hay nói cho đúng ra, Đà Lạt là sự tổng hợp thật khéo léo tài ba, nhuần nhuyễn của bao nhiêu chất liệu, trên khắp nẻo đường đất nước thân thương.

Thậm chí lại có người bảo: Đà Lạt vốn không quá khứ; không làm gì có những di sản tinh thần; cũng không bén rễ từ một khả năng tiềm ẩn nào; thế nhưng, trong sức hút khách viễn du, từ bốn phương, tám hướng, thì Đà Lạt đã tự tạo cho mình một niềm san sẻ đồng đều, nối liền quá khứ với tương lai giữ gìn mãi trong vĩnh cửu, miên trường của dòng năm tháng.

Bao nhiêu tâm hồn nhàu nát, chỉ mong trở về Đà Lạt trong một sớm, một chiều nhưng đến nơi rồi lại khôngchịu đựng nổi cái khung cảnh ảm đạm, thê lương mà vội vã ra đi. Đến hay đi, thì Đà Lạt vẫn là chất dinh dưỡng cần thiết của tâm hồn con người, từ vạn nẻo.

Dìu nhau bên vườn Bích Câu; tìm hơi ấm bên nhau cạnh hồ Than Thở; kể chuyện ân tình ấm lạnh bên thác Cam Ly; nép kín bên nhau trong góc Giáo đường, ôi một trời thánh thiện khắp bầu trời mưa giăng mau khắp Đà Lạt. Những thứ đó không đãi đưa, không thần thoại, mơ hồ, vì cảnh trí Đà Lạt tự nó đã tạo cho mọi tâm hồn cái bản sắc lãng mạn nên thơ, tuyệt sắc. Một chuyện tình xảy ra bình thường tại một địa phương hướng khác, nhưng khi đã đưa nhau về sống những chuỗi ngày tại Đà Lạt thì vẻ kiều diễm lại thiết tha hơn, mặn nồng hơn. Thật khó lý luận nổi; cũng không chứng minh nổi:

"Ai đem phân chất một mùi hương,
hay bản cầm ca, tôi chỉ thương"

Trong cái khuôn thước chừng mực của thành phố trong bao nhiêu tháng ngày vừa qua, mãi cho đến hôm nay, không một ai có thể nuôi tham vọng nào để thay cái cung cách hồn nhiên của thành phố. Thành phố của những trường Chánh trị, trường Võ Bị, trường Đại học Kinh Doanh; thành phố của của cô gái tóc thề, đôi má hồng, nụ cười tươi; thành phố mang âm hưởng của nét đẹp tây phương. Thành phố của đồi thông, núi rừng, suối ghềnh, hoa thơm cỏ lạ, thì càng không thể nào khoác lên một lớp áo lố lăng, xa lạ được!

Chính những thứ vừa nói đó, đã mang theo những hấp lực lạ kỳ, lôi cuốn người muôn phương, và lưu lại trong mỗi đáy sâu tâm hồn trĩu nặng của chúng ta vô vàn luyến tiếc. Con người Đà Lạt thường có những ước mộng bình thường, thật đơn sơ, đôi khi đượm đôi chút trữ tình, dấu vết của rừng cây, nội cỏ.

Và dù cho những giận hờn, mất mát, cả đến những đau thương đi chăng nữa thì những câu chuyện tình, những nét yêu thương, những chuỗi ngày thơ mộng trên vùng trời Tây Nguyên này vẫn giữ được những nét kêu sa, duyên dáng, xinh tươi của nó. Thiếu mất đi, như đánh mất đi cả tâm hồn mình.

MỘT THỜI ĐỂ YÊU VÀ MỘT THỜI ĐỂ CHẾT:

Đà Lạt có những ngày cuối tuần diệu vợi. Cuối tuần cho những chàng trai trường Võ Bị, hay Chính Trị Kinh Doanh. Cuối tuần cho những người em gái Bùi Thị Xuân, Couvent hay Việt Anh, Trí Đức? Những lần ngỡ ngàng đứng trước ngõ người yêu mà bâng khuâng, chờ đợi. "Mời anh vào, mẹ em nhắc anh hoài". Thôi rồi những chàng trai đã thực sự bị mê hoặc vì những đôi má ửng hồng. Màu hồng của thần thoại, liêu trai. Màu hồng của diễm ảo, hoang đường. "Mẹ em mời anh ly rượu mận, cho ấm lòng nhau" Rồi ta đưa nhau xuống phố, như dìu nhau về đến bến bờ yêu đương... Chuyện tình xảy ra như thế. Và dù cho ở góc độ nào đi chăng nữa, những ngày cuối tuần nơi đây vẫn là thời gian dành riêng cho những tuổi lứa đôi, dành riêng cho khách chung tình. Thì dù cho mưa có lạnh, gió có hắt hiu, tình vẫn nồng nàn.

Đà Lạt có những chiều tan trường về rộn rịp. Tiếng guốc gõ ròn tan trên dốc chùa Linh Sơn, một thứ âm thanh cực kỳ rộn rã, vui như tuổi vừa chớm yêu thương. Những em gái Bùi Thị Xuân, thoáng hiện qua màu áo thiên thanh "thơ ngây ngày nào; chìm khuất trong mưa, mưa bay dạt dào" mất dần trong làn sương chiều, nhạt nhòa khói sóng. Đưa em về cuối ngõ. Ngần ngại nhìn em khi nói câu chia tiếng. Rồi từ đó, chuyện tình cũng lớn dần, nở ra theo màu thời gian, hay đã chết dần theo năm tháng? Và một sáng tinh khôi nào đó, người con gái mới chợt thấy rằng: Mình đã yêu. Hoa vẫn đẹp, nắng vẫn nồng, và tình vẫn tha thiết, cuồng si... Những buổi chiều như thế vẫn diễn ra; những bước chân lãng đãng "anh theo Ngọ về, mái tóc Ngọ dài" sẽ kết thúc làm sao đây?

Đà Lạt có những mùa hè rực rỡ. Ngày hè, chen chân nhau, hò hẹn nhau đến nơi đây, cốt là quên đi những chuyện nhân tình ấm lạnh; đến đây để lãng quên đời, để tiêu sầu nhân thế! Dỗi hờn rồi cũng phôi pha. Hận thù rồi cũng chóng vánh.

Nắng Đà Lạt vừa đủ hanh vàng; mưa gió rồi cũng vơi đi; và người yêu cũng vừa trở lại. Mùa xuân trên đỉnh non cao, quả thật đẹp như bức tranh thủy mạc, chỉ cần vài nét chấm phá thôi, sông núi cũng đã đổi màu.

Bây giờ thì những chuyện đó đã tan biến trong hư vô, hay chỉ còn đôi lứa qua ảo giác của mình. Những hình bóng cũ ấy đôi khi chỉ còn chập chờn trong hư ảo, mông lung. Tất cả kỷ niệm đều chỉ ghi dấu có một lần, trong đời mình mà thôi. Đà Lạt nằm trên mấy từng cao, nên đã vội lùi sâu trong sương khói của thời gian mất đi rồi!

Những người con gái ấy bây giờ còn nhớ đến tôi không? Có còn nhớ lại những vùng trời kỷ niệm tuyệt vời của một thời được yêu, thèm yêu và thỏa thuê hay cay đắng vì tình yêu. Màu áo thiên thanh huyền hoặc của một thời xa xưa nay đã đổi màu, hay còn phong kín lại, như kỷ vật dấu yêu thuở còn con gái? Những lưu bút ngày xanh, những xác hoa bâng khuâng, hoa mimosa ướp tặng nhau trong mối tình đầu? Những chuyện thần tiên ở hồ Than Thở, rừng Ái Ân, vườn Bích Câu, đồi Kỳ Ngộ, thác Cam Ly, vết tích còn xót lại của những ngày âu yếm bên nhau, có đem lại chút bâng khuâng nào khi nhớ lại ân tình cũ? Nhưng câu chuyện cũ thì đã nhạt nhòa trong trí nhớ; những cuộc sống đau thương quằn quại trong hiện tại còn có thể kéo dài, chờ đợi, mỏi mòn, cho đến khi còn hơi thở tàn, để nhắm mắt, buông tay.

Những vết hằn năm tháng của quê hương giờ đây chỉ còn xót lại những cơn mơ hãi hùng.

NHỮNG NĂM THÁNG DÀI:

Cùng chung nhịp thở với những biến chuyển dồn dập của đất nước, suốt mấy chục năm qua, Đà Lạt cũng trải qua những bước thăng trầm, những đau thương tang tóc. Có điều khác là: Nơi đây không phải là địa bàn chiến lược, cũng không có những tranh giành, san sẻ, nhũng đổi thay chóng vánh, nên Đà Lạt cũng đã trở thành khung trời khép kín của quê hương.

Kể từ năm 1946, Hội nghị chính trị Đà Lạt không thành, nơi đây đã nghiễm nhiên trở thành Hoàng Triểu cương thổ. Giữ gìn cho được cái thế biệt lập của mình, Đà Lạt như người con gái lầu hoa, chẳng mấy khi dây dưa chuyện nhân tình thế thái. Thuở đó, những người dân miền duyên hải, chốn thùy dương, chỉ xem Đà Lạt như một mảnh đất xa vời, đầy huyền thoại. Nơi đây chỉ dành riêng cho một thiểu số giàu sang, muốn tu tâm dưỡng tánh, trì chí dưỡng khí, hoặc thích chuyện cầu nhàn, hưởng lạc, theo gót Lão Trang. Cái sắc khí Tây Phương cũng đã ăn sâu vào lớp thanh niên Đà Lạt kể từ độ ấy.

Năm 1954, đất nước chia đôi, chiến tranh nghiệt ngã. Khi lớp sóng người di cư từ Bắc và Nam, thì Tây Nguyên đã trở thành vùng đất tân canh của họ. Đà Lạt đổi sắc thêm hương, mời đón khách từ bốn phương trời; nhưng kỳ thật thì cảnh trí nơi đây không náo nhiệt như bao nhiêu thị thành vùng duyên hải. Bản sắc phóng dật ngày xưa còn đó; không gian mờ nhạt còn đây, thì Đà Lạt vẫn tránh hết mọi cuộc xáo trộn, bon chen, biến chuyển dập dồn.

Năm 1963, Đà Lạt lại một phen trở mình. Thoạt đầu phong trào đấu tranh của Phật Giáo chống kỳ thị tôn giáo và nhân quyền. Chùa Linh Sơn, chùa Linh Quang, chùa Tuệ Quang biến thành những trung tâm tranh đấu. Cũng tuyệt thực, cũng đòi tự thiêu, nhưng những chuyện đó cũng chỉ thoáng qua, như một dư âm, không mấy thu hút. Người Đà Lạt không mấy quan tâm đến thế sự, ẩn mình sau khung cửa kín, ngỡ ngàng như cô gái Tây Nguyên. Khi nền Đệ Nhị Cộng Hòa thành lập, đã có thời Đà Lạt trở thành một trung tâm chính trị cho tướng lãnh, nhưng đó chỉ là chuyện một thời trong một đời. Đà Lạt còn là một thời vang bóng.

Năm 1968, Đà Lạt cùng chung số phận với 36 tỉnh thành miền Nam, bị đe dọa trước cuộc tổng tấn công, và nổi dậy của miền Bắc xân lăng. Đà Lạt nếm mùi ác khí. Những tên du kích, răng đen, mã tấu, dép Bình Trị Thiên đã từ các ngõ Trại mát, Lạc dương, Cam ly, Đức trọng, mưu toan việc chiếm lấy và nhuộm đỏ Đà Lạt. Cũng máu đổ, thịt rơi, nhưng chỉ thoáng qua trong chừng gang tấc.

Năm 1972, khi chiến trường Tây Nguyên sôi động, Đà Lạt toan trở thành một hậu cứ an toàn, nhưng với địa thế hiểm trở, vận chuyển khó khăn, phương tiện ngặt nghèo, vẫn không thực hiện nổi. Nhưng từ đấy, thì khói lửa thật sự tràn đến Đà Lạt. Người dân nơi đây đã bắt đầu cảm thấy những hậu quả ghê gớm của chiến tranh. Họ bắt đầu nghĩ đến một chuyến đi, trong phút chốc hay trong vĩnh viễn. Những chuyến di tản, những cuộc chia ly, đã tạo cho Đà Lạt không khí u buồn, tang thương kể từ độ ấy. Bây giờ thì Đà Lạt không còn là nơi hẹn hò nhau cuối tuần, dậy lên những yêu thương lãng mạn, hay vẽ ra những huyền thoại thần kỳ. Mỗi người dân đã đoán trước những biến chuyển mới rồi cũng không buông tha Đà Lạt, cũng như không buông tha cho đất nước khốn khổ này. Bỏ Đà Lạt mà đi, như cắt cuống rún của mình. Thôi thì đành vậy.

Năm 1975, Đà Lạt đã thực sự thất thủ vào chiều ngày 1 tháng 4/75, khi tỉnh trưởng Tuyên Đức. Viên thị trưởng Đà Lạt ra lệnh di tản khỏi thành phố, trước khi quân địch tràn vào. Cuộc di tản Đà Lạt dọc theo quốc lộ 11, đi về ngõ Phan Rang, rồi theo quốc lộ 1 về Phan Thiết, và cứ thế mãi. Cuộc di tản đã gặp hai trở ngại lớn: Việt cộng chận đứng ở khu rừng Lá, rồi sau đó bị cướp bóc ở Hàm Tân. Hình ảnh cuối cùng của người dân Đà Lạt là chính mình đã được thấy những người sinh viên ưu tú của trường Võ Bị Liên Quân và trường Chiến Tranh Chính Trị mở đường ra đi. Đó cũng là nét đẹp thân thương cuối cùng còn sót lại trong niềm thương, nỗi nhớ.

Đà Lạt cũng ngày xưa thân ái, bây giờ thì không còn nữa. Người em gái ngày xưa cũng đã lưu lạc đến một phương trời nào?

HỒN TÍNH ĐÀ LẠT:

Đừng đào tìm đâu ra những di tích lịch sử oai hùng, hiển hách của một thời dựng nước và giữ nước, những phong ba dồn dập, hay những tai ương khổ ách, những thủy họa, thiên tai trên vòm trời Đà Lạt, một khi mà tuổi của thành phố chỉ suýt soát với cuộc đời của chúng ta hôm nay. Cũng đừng hoài công khai thác đâu đây, những chuyện tình lâm ly, diễm lệ những đau thương, tủi hổ, giận hờn, hay những bi kịch, những hùng ca, ai vãn hay não khúc, trên bề rộng lẫn chiều sâu của thành phố. Và cũng đừng tạo dựng ra bản chất thật toàn vẹn của một nền văn học, nghệ thuật, hay một nếp sống tinh thần với đầy đủ những thứ điển hình lẫn cá tính ở vùng trời Tây Nguyên này.

Thành phố Đài Lạt là một vùng tân lập, tân khai, chỉ là điểm hội tụ mới nhất của đất nước, cốt trông chờ khách, viễn du từ bốn phương trời, ở vạn nẻo đường quay về. Về đây để vun xới, để tô bồi cho hương sắc của quê hương. Với những nét đặc trưng kỳ thú đó, thì hồn tính của Đà Lạt cũng đã giúp cho những người làm công tác văn học nghệ thuật có thêm nhiều chất liệu cần thiết, lấy đó làm bối cảnh nên thơ, diễm kiều ngay trong bản sắc của nó.

Thực ra, thì Đà Lạt đã qua nhiều phen thử thách, dạn dày, ly hợp vừa qua, nhưng rồi đã tự thấy rằng: Không thể nào thoát được cái nếp sống tinh thần cố hữu của mình được.Triều đại nào rồi cũng thế, chế độ, chính trị nào rồi cũng thế.

- Hãy trả lại những thân yêu, mặn nồng, đôn hậu cho người em gái bé bỏng của tôi ở vùng trời Tây Nguyên.

- Hãy để cho núi rừng, ghềnh suối Lâm Viên còn giữ mãi những nét đẹp hùng vĩ, yêu kiều, đậm đà, những gì đã điểm tô cho tự tình dân tộc.

- Hãy để cho người áo trắng say sưa xây dựng giấc mộng đẹp trên các núi đồi; những tà áo thiên thanh điểm tô cho phố phường Đà Lạt.

- Hãy dành những sáng chủ nhật tinh khôi cho những cặp nhân tình; hay những mùa hè chói chang cho khách viễn du quay trở lại.

- Hãy nâng niu những gì còn sót lại, hay những kỷ niệm ngọc ngà, mà trong mỗi chúng ta, những người lưu vong nơi đây, còn gắn bó ít nhiều với miền đất lành, suối trong, thông cao, hồ rộng.

Tâm tình của người ra đi thường vùi lấp trong muôn nghìn kỷ niệm. Biết đâu trong dư âm ngày tháng cũ, ta lại tìm thấy những nụ cười , khóe mắt, làn môi xa xưa. Biết đâu, lại nhận ra "Áo em ngày nọ; phai nhạt mấy màu. Âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau, tìm nhau..."

Với những nhận định tổng quát trên đây, chúng ta cũng đã tìm thấy được những đặc thù, đặc trưng của Đà Lạt. Trên góc độ khám phá nào chăng đi nữa, trữ tình hiếm có trên đất nước thân thương.

KIÊM THÊM
Nguồn: SAIGON TIMES USA

BACK TO TOP    

TRỞ VỀ MỤC LỤC
Ao Sau Vườn