.   TRỞ VỀ MỤC LỤC

  
NGUỒN GỐC CỦA TIẾNG "CÙI" 

"Cùi" [Tạp ghi]  
Ðóng góp thêm về "Cùi

Chúng ta mất hết chỉ còn nhau 
 

"CÙI"
TẠP GHI

Trong một buổi họp mặt Hội cựu SVSQ Trường Võ bị Quốc gia Việt nam tại tiểu bang Washington, một vị cựu sinh viên sĩ quan hỏi riêng tôi: "Tụi nó dùng chữ CÙI gọi nhau. Cùi là gì vậy anh?" Vị này đã chọn đúng người để hỏi.

Giải thích nguồn gốc chữ "CÙI" quả thật là một chuyện dài.

Bắt đầu khóa 15, chương trình 4 năm bắt đầu với mục tiêu là sau khi tốt nghiệp, Sinh viên sĩ quan sẽ được cấp văn bằng tương đương với bằng đại học của bất cứ một trường đại học nào của các ngành khác trong quốc gia. Chương trình học gồm hai phần: Văn hóa và Quân sự. Mỗi năm học được chia ra làm hai mùa: Mùa Văn hóa và Mùa Quân sự. Cơ cấu của trường được tổ chức làm 3 khối:

Khối Văn hóa do một Văn hóa vụ trưởng, ít nhất phải có bằng cử nhân, cầm đầu.  
Khối Quân sự do một Quân sự vụ trưởng cầm đầu  
Khối Yểm trợ Tiếp vận chỉ huy bởi vị Trưởng khối Yểm trợ và Tiếp vận  

Văn hóa vụ trưởng đầu tiên là cụ Ðỗ Trí Lễ, cựu Giám đốc Học chính tại Hà nội. Sau khi cụ Ðỗ Trí Lễ về hưu, Trung tá Trần Ngọc Huyến được bổ nhiệm về trường thay thế. Chữ "CÙI" xuất phát từ lúc khóa 16 còn tại trường và Trung tá Huyến giữ chức vụ Chỉ huy trưởng kiêm Văn hóa vụ trưởng của trường.

Mặc dù là Chỉ huy trưởng nhưng ông thường trực tiếp lên lớp với khóa 16 với tư cách một giáo sư văn hóa giảng dạy môn "Huấn luyện Tinh thần". Có lẽ vì chương trình bốn năm dài đằng đẵng, phần đông sinh viên đã ngán văn hóa, nhưng khi vào trường lại gặp phải văn hóa nên sinh ra ù lì, biếng học. Thái độ tiêu cực của một số sinh viên sĩ quan trong các giờ "học về tinh thần" làm vị giáo sư này nổi giận. Ông áp dụng kỷ luật, rầy la nhưng thấy cũng không có hiệu quả mấy. Ông đổi ra phương cách khích động tinh thần. Ông đã để ra hàng giờ lý luận với sinh viên sĩ quan phương trình A phải bằng A, thuyết phục sinh viên sĩ quan là phải chấp nhận khi vào trường là phải học hành đến nơi đến chốn chứ không được lạng quạng. 

Càng cố gắng, ông giáo sư này càng gặp bực mình. Một hôm nọ, sau khi sinh viên sĩ quan ra khỏi lớp, còn lại mình ông và tôi, ông cằn nhằn: 

"Tụi sinh viên của "toi" bê bối quá. Cùi hủi gì đâu! Chỉ có cùi mới không sợ ghẻ lở. "Moi" phải gọi tụi nó bằng cùi mới được."
Ông vừa nói xong thì lớp khác vào học, ông bèn gọi sinh viên sĩ quan là cùi luôn. Ông dùng chữ CÙI như để "mắng yêu" sinh viên sĩ quan. Có một vị giáo sư nào mà không thương yêu học trò? Ðối với sinh viên sĩ quan, Trung tá Huyến là người "giơ cao đánh khẽ".

Chữ "Cùi" xuất phát từ đó và vô hình chung đã trở thành một tên gọi dễ thương mang tính cách truyền thống. Các vị niên trưởng và đại niên trưởng ngày nay nếu có nghe các khóa trẻ xưng hô với nhau qua chữ "Cùi", xin đừng chấp nhất và nếu có một vị niên trưởng nào đó viết bài cho Ða Hiệu lấy bút hiệu là "CÙI" như "CÙI 3", "CÙI 5" v.v... chắc chắn vị đó sẽ được "Cùi" đàn em hoan hô hết mình. 

HUỲNH BỬU SƠN QSV 
[Trích Ðặc san ÐA HIỆU số 40 Tháng 10-1995]

 
Chuẩn bị nhập trường 

 
Ngày đầu tiên 


Tám tuần huấn nhục 

 
Và khi mùa văn hóa bắt đầu 

BACK TO TOP 

.

Ðóng góp thêm về "CÙI"  

Khoảng cuối năm 1995, sau khi tạp ghi của Thầy Huỳnh Bửu Sơn xuất hiện trên Ða Hiệu số 40, tôi có viết một bài ngắn (*), góp thêm về gốc tích của danh từ "CÙI" . Có lẽ vì sự tế nhị nào đó, bài không thấy đăng trên số kế tiếp . Nhân diễn đàn VBVN phổ biến lại bài của Thầy Sơn, tôi cố gắng nhớ, ghi ra đây trường hợp tương tợ như ý của bài tôi gởi Ða Hiệu hơn 7 năm về trước. 

Ðúng như Thầy Sơn viết, Thầy Trần Ngọc Huyến lúc Khóa 16 thụ huấn tại trường, là Chỉ Huy Trưởng kiêm Văn Hoá Vụ Trưởng. Vị Văn Hoá Vụ Trưởng sáng kiến thiết lập và đích thân giảng dạy môn "Lãnh Ðạo Chỉ Huy" (chứ không phải ..."Huấn Luyện Tinh Thần") đặc biệt cho Khóa 16, một môn học mới có hệ số khá cao so với các môn "văn hoá" khác. 

Chúng tôi rất thích thú vì đây là môn học mới. Giáo Sư không "dạy" lý thuyết từ chương, chỉ cần đưa một số đề tài, chỉ dẫn một vài nguyên tắc căn bản, gợi ý để SVSQ thảo luận và giúp tổng hợp ý khả dĩ áp dụng vào hoàn cảnh thực tế ngoài các đơn vị sau khi rời trường. 

Có thể viết ra đây mà không sợ lầm lẫn, chính nhờ môn học nầy bổ túc cho các môn chuyên môn khác về văn hoá lẫn quân sự và quyết tâm giảng dạy của Thầy Huyến, đã tạo cho khóa 16 được đa số các đơn vị trưởng, và chiến hữu ghi nhận sự "nhạy bén" về lối "chỉ huy" và "tham mưu" của sĩ quan khóa nầy ngoài đơn vị. 

Các giờ giảng dạy của môn "Lãnh Ðạo Chỉ Huy" cho Khóa 16 khởi sự ngay từ Mùa Văn Hoá năm thứ nhất; thường tại nhà "ma hê" nơi Trường cũ . Ngoài các giờ giảng dạy, Thầy Huyến thỉnh thoảng mời một số nhân vật chính trị tại địa phương cũng như trung ương đến thuyết trình về một số đề tài liên hệ. 

Năm ấy, khoảng cuối 1960, trước khi kết thúc Mùa Văn Hoá, Thầy Huyến mời Vị Nữ dân biểu Quốc Hội đệ nhất Cộng Hoà đến thuyết trình về hiện tình đất nước. Tất cả Khóa 16 tham dự, cũng tại nhà "ma-hê", được nghe Thầy giới thiệu sơ lược về thuyết trình viên và kế tiếp, phần trình bày của Bà khá hấp dẫn, thu hút người nghe. 

Ðến phần đặt câu hỏi thì hội trường sôi động hẳn . Một số câu hỏi được nêu lên. Cũng có lúc, diễn giả trả lời có phần lúng túng. Chính vì thế, từ cái khung "hỏi đáp", một cuộc "thảo luận" giữa thuyết trình viên và khóa 16 diễn ra trước sự chứng kiến của Thầy Huyến. Trên bàn chủ tọa, có lúc Thầy gật đầu, cười thoải mái; đoán chừng Thầy có vẻ bằng lòng "tuị nó" lắm! Ðôi lần, Thầy cũng góp ý như để "cứu bồ" cho diễn giả. Tài hùng biện và lối lý luận của Thầy cuốn hút sự chú ý của khóa sinh tham dự như mọi lần trong lớp học. 

Sau khi tiễn vi dân cử ra về, Thầy Huyến trở lại bàn chủ toạ, không nói nhưng gật đầu lia liạ, rồi cười lớn. Chúng tôi ngồi bên dưới chứng kiến độ chừng một phút, Thầy bắt đầu nhẹ giọng, "mắng yêu"... "Hôm nay, sao các CÙI làm khó dễ khách của tôi quá!". Nói xong Thầy lại, vừa gật đầu, nghiêng chiếc ghế ra phía sau, ngửng mắt lên cao, vừa cười lớn một cách thoải mái. 

Khóa 16 cảm thấy mình được khen, và được gọi bằng danh từ ngồ ngộ là "CÙI", tất cả đứng dậy, reo hò vang dội; dù lúc đó, chưa hiểu chữ "CÙI" nghĩa là gì. Trên kia, Thầy Huyến vui lắm; thầy để mặc, ngồi nhìn chúng tôi hét, hò. 

Giờ học chấm dứt, chúng tôi rời nhà "ma-hê", mang theo tiếng "CÙI" cuả Thầy về. Thế rồi, danh từ nầy được khóa 16 áp dụng ngay ở hành lang, trong phòng vệ sinh, phòng ngủ, phòng ăn, chí đến ngoài ngõ, trên đường đi bỏ "đồ giặt" buổi chiều, đến tận ngoài phố Dalạt lúc cuối tuần. "CÙI" được khóa 16 gọi nhau đến nỗi lan đến khóa 15 sắp mãn khóa và các khóa kế tiếp sau, khi nhập trường. Và, sau đó, nó trở thành danh từ "truyền thống". 

@

Viết lại sự kiện nầy, tôi không có ý phản bác những gì Thầy Sơn viết đăng trên Ða Hiệu số 40 trên 7 năm về trước; chỉ mong đóng góp thêm dữ kiện về một trong một số danh từ "truyền thống" của Trường từ một trong những học trò tuổi đôi mươi lúc đó, nay đã là "senior citizen" của đất nước tạm dung nầy . Cũng cần ghi thêm, mười năm trước bài của Thầy Sơn, tức năm 1985, khi phụ trách newsletter "KHOÁ16" của khóa 16 trên số chủ đề "Viết cho Thầy", tôi đã viết về Quý Thầy đã dạy khóa 16 về văn hóa lẫn quân sự và một số kỷ niệm. Nếu Thầy Hiền .."Ớt lớn ớt nhỏ", nếu Thầy Thành..."Các anh đi như đàn vịt", Thầy Ân..."vì vậy cho nên gì!", thì Thầy Di "Tôi m..u..ố..n, tôi m..ụ..ố..n các anh..."; Thầy Huyến... "Các CÙI làm khó dễ khách của tôi quá", v.v...  Thầy Huyến, sau đó, có viết giải thích tại sao Thầy dùng chữ "CÙI" để tự xưng cho chính Thầy cũng như dùng để gọi những học trò khóa 16 một cách thương yêu, thân thiết nhưng mang cung cách hãnh diện của chính Thầỵ. Cũng vì sự tế nhị của hoàn cảnh đất nước và của tất cả chiến hữu chúng ta, một thời có liên hệ đến chức vụ, trách nhiện của Thầy và đến danh tiếng của Trường Mẹ, tôi xin không được ghi lại đây để tránh một sự, nếu có, chia rẽ, hiểu lầm. 

Dù thế nào, danh từ "CÙI" đã là tên gọi chẳng những riêng cho từng cựu SVSQ khóa 16 mà còn tự động là nickname chung cho cựu SVSQ từ ngày ấy tại Trường . "CÙI" đã là danh từ "truyền thống"

Nguyễn Xuân Hoàng, k16
New Jersey, USA
[Trích từ "Diễn Ðàn VBVN" - Tháng 2 - 2003]

BACK TO TOP 

.

 Chúng ta mất hết chỉ còn nhau

Trong trường, bọn tôi ghét nhất mấy "đấng" dạy văn hóa. Họ dạy hay, tính tình cũng bớt gắt gao và không trực tiếp hành chúng tôi thẳng tay... nhưng sao bọn SV Cùi chúng tôi vẫn khó chịu. Cùi nọ "thỏ thẻ" với Cùi kia:

- Sao mặt mày mấy cha đó cứ kên kên lên! Mày thấy không?
- Thấy! Họ như mấy kẻ bất đắc chí! Bộ đồ lính mặc vào người, mấy cánh hoa đeo trên cổ... đã làm sụt giá trị các quan văn hóa! Vì thế mấy cha đó nhiều lúc giảng hay thật mà tao không thèm nghe!
- Ðúng thế... trông thấy mặt đã ghét. Tần số bắt mãi chẳng dzô... làm sao hợp?

Nhưng có một ông mà quả thật SVSQ chúng tôi không sao ưa ông ta một chút nào được cả. Ðó là giáo sư văn hóa Tô Công Dung dạy môn Nhân văn. Ông này mặt kên kên lạnh lùng khó ưa! Lúc thì lại bí sì sì như anh thi sĩ đang bí vần thơ. Mặt mày nhăn nhó khó ưa, đi đứng loạng quạng không có một nét..."hạ sĩ nhất" trong người (đeo lon sĩ quan mà cứ thích coi mình là vẫn còn dân chính chính hiệu mãi mãi...) và dáng điệu ông cố nội này khinh khỉnh tột cùng. Thiệt ông coi Huấn luyện Trung đội trưởng, Ðại đội trưởng của chúng tôi còn không bằng nửa con mắt, huống hồ đám SVSQ chúng tôi... dân tép riu thì ông còn khinh tới cỡ nào!

Ấy, ngày đó bọn Cùi tụi tui "nói nhỏ nhau nghe" về vài ông tổ sư văn hoá là như vậy còn thật giả trong lòng quý vị đó ra sao bọn chúng tôi chẳng rõ.

@

Thế sự đảo điên, vật đổi sao rời, bể dâu biến... loạn! Một ngày đẹp trời kia trong trại Suối Máu tôi gặp lại... thầy Tô Công Dung, giáo sư văn hóa của Trường Mẹ.

Nhận ra ông tôi vội tiến lại gần ngỏ lời chào kính và hỏi thăm vị huấn luyện viên văn hoá. Ðiều này kỷ luật trại cấm tuyệt đối nhưng tôi nghĩ mình từng là Cùi vẫn phải có... tí "giáo dục" biết trước biết sau "nhất tự vi sư, bán tự vi sư". Trong lúc đại loạn, nước mất nhà tan, quân đội tiêu tùng... thì dù sao giấy rách phải giữ lấy lề chứ!

Ông cũng nhận ra tôi ngay là một cựu SVSQ ở Võ bị Ðà lạt. Và Chúa Phật Thánh thần ơi... "bổn cũ soạn lại y chang", nét mặt dáng điệu ông lại khinh khỉnh kên kên trở lại dù cả hai thầy trò đang cùng mặc bộ áo tù trong địa ngục cộng sản. Ông khẽ gật đầu nói nhạt nhẽo được hai tiếng như sợ tiếc lời:

- À cậu!
Tôi chửi thề trong bụng:
- Giờ này hắn còn không chịu "hòa tan" thông cảm. Vẫn mặt sắt đen sì coi đời bằng nửa con mắt. Cứ như là "Ðấng Văn hoá"... một "Võ lâm chí tôn"!

Lẽ dĩ nhiên từ phút đó, tôi cho Trung úy Giáo sư Tô Công Dung sang số de ngay:
- Mình gặp cha đó hỏi han chào kính để hy vọng có thêm tin tức thầy cũ bạn cũ nơi Trường Mẹ mà mặt cha đó vẫn còn cứ khinh khỉnh, lạnh lùng. Kỳ này để bọn quản giáo nó luộc cho biết đá biết vàng bỏ bớt cái thái độ khinh thế ngạo vật đi.

Trong trại Suối Máu nổi tiếng khát máu là tên Thượng tá "Hăng Rô" môi thâm sì, mắt trắng dã. Một tay hắn đã hành hạ tàn nhẫn và nhốt vào connex không biết bao nhiêu "học viên". Bữa học tập hôm đó, chính hắn chủ tọa cho học viên tù chúng tôi kiểm thảo. Ông lớn ông bé nào cũng "đồng thanh" ca bản con cá đúng với đường lối của trại:

- Thành khẩn nhận tôi 100%.
- Chửi Ðế quốc Mỹ, Ngụy quyền Ngụy quân v.v... và v.v...

Và tới lượt "Ðấng Văn hóa" Tô Công Dung! Bọn cùi chúng tôi ngó nhau lắng nghe xem người Võ lâm chí tôn này... "than thở" ra sao. Tiếng thằng "Hăng Rô" the thé:

- Anh kia? Tên là gì, cấp bậc cũ? Làm gì trong ngụy quân?

Vẫn nét mặt "kên kên" đó, vẫn ánh mắt bình thản đó, người tù Tô Công Dung đứng dậy thong thả nói:

- Tôi tên Tô Công Dung...
- Cái gì! Quân Lực Ngụy!
- Ngụy với các anh, nhưng ngày đó Quân lực chúng tôi được gọi là Quân lực Việt nam Cộng hòa. Tôi là giáo sư văn hóa dậy môn Nhân văn tại trường Võ bị Quốc gia Việt nam ở Ðà lạt. Tôi chẳng muốn nhập ngũ. Việc phải mặc quân phục đeo lon là chuyện chẳng đặng đừng...

Viên thượng tá cộng sản đang hằm hằm bỗng hơi dịu lại. Hắn khẽ gật gật cái đầu. Trung úy Tô Công Dung lại nói tiếp:

- Tuy chưa được hân hạnh chỉ huy đơn vị tác chiến để ngang ngửa với Bắc quân các anh tại chiến trường, nhưng tôi vẫn lấy làm hãnh diện đã góp phần đào tạo ra các sĩ quan, các cấp chỉ huy dũng cảm hiên ngang và tạo nên nhiều chiến công để đời ở An lộc anh dũng, ở Quảng trị oai hùng. Các học trò của tôi thật đã làm cho chúng tôi không hổ thẹn chút nào, dù bây giờ chúng tôi là kẻ thua trận dưới tay các anh.

Mấy lời nói trên làm toàn thể "lính ngụy" ở hội trường vừa sướng tỉnh người vừa xanh mặt.

Hậu quả: Thầy Tô Công Dung của chúng tôi bị tên Hăng Rô cho bắt nhốt vào connex ngay. Chúng tôi cảm động trong sự bàng hoàng tới cực độ đến rơi nước mắt. Tô Công Dung của chúng tôi đúng là siêu "Cùi" và xứng đáng là thầy của SVSQ/VBÐL chúng tôi. 

Ðêm học tập đó, với những lời nói rổn rảng của ông, cả trại tù đã bầu ông là "Võ lâm chí tôn" của trại. "Hăng Rô" căm hận lắm, sau tìm cách đày Trung úy Dung của chúng tôi ra Bắc.

Hôm ông ra khỏi connex, mắt mờ chân run. Bọn tôi lén dúi cho ông tí thực phẩm, ông thều thào:
- Cám ơn mấy em...

Trước ngày ông bị đẩy ra Bắc ông còn dặn dò:
- Các em ở lại, giữ gìn sức khoẻ. Ðừng để bọn chúng làm nhục. Ðời người ai cũng chỉ chết một lần.

NGUYỄN KIM QUAN K.28
Bản tin VHV số 10 Giáng sinh 1990
 

TRỞ VỀ MỤC LỤC
Ao Sau Vườn