|
LÊ VĂN LÂN Viết để thay nén hương tưởng niệm kính dâng phương hồn cao quí của anh Hoàng Liên Nguyễn Văn Ðãi Trong giai đoạn 45 năm đầu của thế kỷ 20 (1900-1945), tại nước Việt Nam, ở Trung kỳ và Bắc kỳ - theo lối gọi thời đó - là nền Quân chủ thuần túy của ÐẠI NAM QUỐC của nhà Nguyễn dưới sự bảo hộ của Pháp (Protectorat francais) bắt nguồn từ cuối thế kỷ 19 sau Hiệp ước Patenôtre 1884; còn Nam kỳ là thuộc địa của Pháp (Colonie francaise) theo Hoà ước Giáp Tuất 1874. Giai đoạn này tương đối êm ắng nên được người ta đã mỉa mai gọi là "thời thái bình Pháp" (la paix francaise).Về thời Quân chủ độc lập của Việt Nam, chúng ta chưa tìm ra tài liệu thật chính xác về quốc kỳ ra sao, nhưng chỉ nghe nói đến ngọn "Cờ vàng" qua văn chương cổ với câu sau: "Ðầu voi phất ngọn cờ vàng, Sơn thôn mấy cõi chiến trường xông pha" khi tả về bà Triệu xuất quân đánh giặc Ngô trong Ðại Nam Quốc Sử diễn ca. Có thể Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng của Trung Hoa, nên tiền nhân chúng có thể mô phỏng họ như cờ đã thêu chữ về tên triều đại hay thêu rồng năm móng trên nền vải vàng làm tượng trưng vương quyền và hồn nước. Trong sách cổ "Lễ Ký" có ghi câu về cờ làm vương hiệu màu vàng nằm ở trung ương trong thế Trận Ðồ Bát Quái, mà tiền quân là cờ đỏ Chu tước (hay Ðiểu), hậu quân là cờ đen Huyền Vũ, tả quân là cờ xanh Thanh Long, hữu quân là cờ trắng Bạch Hổ. Lá cờ vàng của vua nằm trung ương trên cao có thêu chòm sao Bắc đẩu phất phới ngạo nghễ, chỉ huy và phấn khích thúc dục tinh thần quân lính. (Hành tiền Chu điểu, hậu Huyền vũ, tả Thanh long nhi hữu Bạch hổ, chiêu diêu tại thượng, cấp thiện kỳ nộ) [Outlines of Chinese Symbolism & Art Motives - C.A.S Williams - Dover Publications, Inc. NY 1976]. Ta phải nhớ rằng Cờ ngày xưa của vua và tướng soái theo hình vuông chứ không phải hình chữ nhật như hiện nay. Cờ vuông là phương kỳ theo Tứ tượng có viền tua chung quanh, ở đầu chót đỉnh của cột cờ vua có hình đầu rồng chạm trổ. Có một giai thoại rất khó tin và khôi hài bôi bác là khi sứ bộ Phan Thanh Giản qua Pháp vào tháng 6 năm Quí Hợi 1863 trên tàu Européen để chuộc 3 tỉnh miền đông Nam kỳ, lúc tàu chạy qua kinh Suez phải theo luật lệ là kéo "quốc kỳ Ðại Nam" lên và hụ còi, nhưng không có nên túng thế, sứ bộ bèn dùng tấm vải vàng mà vua Tự Ðức ban cho cụ Phan Thanh Giản làm tay nải hành lý thay quốc kỳ vậy! Có người nói đó là tấm lụa vàng trên ghi chữ đỏ "Ðại Nam Khâm sứ", theo tôi có vẻ đáng tin hơn! (Phụ chú về Lịch sử cờ xứ ta - trong tập Quốc kỳ Việt Nam in phát không của Quốc Duy Nguyễn Văn An 1992) Trong thời Quân chủ triều Nguyễn thuộc Pháp thì ở Nam kỳ là thuộc địa Pháp người dân đương nhiên chào lá cờ Tam sắc của Pháp thì ngoài Bắc và Trung, người dân thường thấy Quốc kỳ có nền vàng. Cờ của vua ở Triều đình Huế có thêu hình rồng năm móng ở góc trái thường cắm trên xe hơi của nhà vua. Còn cờ vàng treo ở các công sở thường là cờ nền vàng không thêu rồng nhưng có hình cờ Pháp ở góc. Tôi đã đặc biệt nhớ đến lá cờ Long tinh được chính thức ban bố làm quốc kỳ có nền vàng ở giữa có một vạch đỏ chạy dọc, vạch này dày khoảng 1/3 chiều ngang của lá cờ. Sở dĩ tôi còn nhớ như vậy là vì lũ học sinh tiểu học chúng tôi phải làm thủ công hay được phát lá cờ này khi có lễ lạc đón tiếp hay được đi diễn hành trước cửa Ngọ môn chúc mừng lễ Vạn thọ của vua Bảo Ðại hằng năm. Nhà vua sanh vào ngày 22 tháng 10 năm 1913 (Quí Sửu). Mỗi khi phất cờ thì chúng tôi phải đồng thanh hô lớn: "Hoàng đế vạn tuế". Theo ông Quốc Duy Nguyễn Văn An trong tài liệu dẫn trên, cờ này do Tứ trụ của Cơ Mật viện triều đình Huế (thành lập từ 1834) bàn và ấn định "lấy nền vàng và thêm một gạch son trên ấy để biến thành lá cờ Long Tinh tiêu biểu cho uy quyền Triều đình Quốc gia trên hai phần đất còn lại của Việt Nam (Bắc và Trung) trong suốt thời Pháp thuộc". Theo Tuệ Quang Tôn Thất Tuệ, lá cờ Long tinh nói trên sở dĩ có là vì "Thời đệ nhị thế chiến, trước áp lực của Nhật, thực dân Pháp tìm cách thoa dịu người Việt. Thừa cơ hội đó, vua Bảo Ðại lần đầu ban chiếu ấn định quốc kỳ và quốc ca" (trích bài "Góp ý với ông Phan Tuấn Triết về Cờ Vàng Ba sọc đỏ" của T.T.Tuệ - 14/10/1996). Dựa theo bài "The Ðăng Ðàn Cung Hymn" của cụ Nguyễn Khoa Toàn, cựu Ðại sứ của Quốc gia Việt Nam tại Thái Lan, viết ngày 15 tháng 11 năm 1952 thì nhu cầu đặt cho Việt Nam một lá quốc kỳ cũng như quốc ca có lẽ vào dịp vua Khải Ðịnh qua Pháp vào ngày 15 tháng 5 năm 1922 để dự cuộc Ðấu xảo Quốc tế ở Marseille, đồng thời mang Hoàng tử Vĩnh Thụy mới 9 tuổi gửi gắm cho ông cựu Khâm sứ Charles để lưu học tại Pháp. Nên có thể cờ Long Tình đã được manh nha dự định chế ra cho Việt Nam nhân dịp này chăng? Về bài quốc ca Ðăn Ðàn Cung vào triều Nguyễn, ta cũng không rõ đã làm vào thời nào? Ông Phạm Quỳnh - chủ bút tờ Nam Phong - vào thời điểm nói trên cũng thăm Pháp có ghi trong tập Pháp du Hành trình Nhật ký của ông về vài chi tiết chính phủ Pháp đón tiếp vua Khải Ðịnh ở vài địa điểm có cử Quốc thiều Việt Nam, nhưng ông lại không nói rõ là bài gì? Phải chăng đó là Ðăng đàn cung cổ điển của Việt Nam đã được ký âm theo Tây phương? Do đó tông tích bài Ðăng đàn cung cũng ly kỳ lắm. Ðăng đàn cung là gì? Ðây là một điệu nhạc cổ đã có từ lâu, nguyên thủy chỉ cử lên khi vị chánh tế "đăng đàn" (bước lên đàn bục) để hành lễ. Về sau, điệu này thường được cử khi Hoàng đế - thay toàn dân làm vị chủ tế tối cao của quốc gia - "đăng đàn" tế lễ trời đất tại đàn Nam giao. Ðăng đàn cung ngày xưa cũng được cử khi tế thần trong các hội làng hay những nghi lễ trọng thể trong triều đình khi nhà vua bước lên ngai để thiết triều. Ý nghĩa của Ðăng đàn cung là cầu thỉnh thần linh giáng lâm hay tôn vinh nhà vua khi khai mạc những buổi tế lễ tôn nghiêm hay khánh tiết của quốc gia. Ðăng đàn cung vốn chỉ là cung nhạc không lời, thường được phường bát âm - gọi nôm na là "ban Nhạc thài" - cử tấu, nhưng trổi nhất là tiếng kèn và sáo trúc. Hơi nhạc ngũ cung của Ðăng đàn cung khó mà chuyển tả ra bằng ký âm pháp Tây phương, nhất là những nốt nhạc lưng chừng hay những láy rung của cổ nhạc Việt Nam. Trong cuốn sách "Dạy hát tiếng Nam" của Nguyễn Trung Nghệ và Nguyễn Trung Phán do nhà in Tiếng Dân (Huế) có ghi lại bài Ðăng đàn cung bằng ký âm pháp cổ điển của ta. Theo cụ Nguyễn Khoa Toàn, nhiều nhạc sĩ đã cố gắng ký âm điệu Ðăng đàn cung theo lối Tây phương nhưng kết quả là nghe không còn hồn nhạc Việt Nam thuần túy. Ban đầu, có ông Maurice Fournier - một nhạc trưởng người Pháp - và ông Nguyễn Tú - một nhạc sĩ Việt Nam - đã cùng cọng tác để chuyển điệu Ðăng đàn cung ra nốt nhạc Âu châu với phần phối trí (arrangement). Theo cụ Nguyễn Khoa Toàn, nhạc Ðăng đàn cung được đặt lời Việt vào năm 1932 bởi cụ Ưng Thiều cho học trò hát khi đón vua Bảo Ðại du học ở Pháp về để đăng quang. Qua giáo sư Lê Hữu Mục, tôi được cơ duyên tiếp xúc trên điện thoại với ông Nguyễn Hữu Nhuận ở Montréal Canada tuổi gần 90, nguyên là người Phú Cam (Huế) làm cựu Trung tá Nhạc trưởng ban Quân nhạc Hải quân VNCH trước 1975. Ông này trước đây vào khoảng 1951 đã làm Nhạc trưởng Quân nhạc Ngự lâm quân ở Ðà lạt nhiều lần đã đánh bài Ðăng đàn cung trong các nghi lễ. Trong thời Pháp, ông thuộc ban nhạc Lính Khố Xanh của toà Khâm Huế (Musique de la Garde Indochinoise de la Résidence supérieure) dưới quyền nhạc trưởng Raymond Clément. Dựa theo ký ức của ông về hồ sơ lưu trữ của ban nhạc này, ông xác định rằng vào khoảng năm 1929, nhạc trưởng Maurice Fournier đã cấp một học bổng đặc biệt cho ông Trần Như Tú (không phải là Nguyễn Tú) qua Nam triều để nghiên cứu và ký âm nhạc của triều đình Huế để sáng tác ra một bản quốc thiều Việt Nam đánh bằng nhạc khí Tây phương cốt chuẩn bị đón vua Bảo Ðại ở Pháp về năm 1932. Vậy chúng ta có thể kết luận rằng Ðây là bản Ðăng đàn cung đầu tiên được chính thức ra đời ở Huế, phần nhạc do Fournier & Trần Như Tú và phần lời do Ưng Thiều. Trung tá Quân nhạc Nguyễn Hữu Nhuận cũng đã ghi lại bài này cho tôi. Ngày xưa còn niên thiếu, tôi đã hát thuộc lòng bài này nhưng tôi thú thực không thích vì cho là giọng nhạc đầy tính bảo hoàng hay tôn giáo, nhịp điệu chậm rãi, ngân nga, cổ kính, thích hợp cho nghi thức tế lễ hay thiết triều hơn là một bài quốc ca mà tôi nghĩ rằng phải hùng, dùng thét gọi thúc dục lòng người như bài La Marseillaise của Pháp. Nhưng về sau, so với những bài quốc ca của Nhật hay của Anh, đặc biệt là bài God save our Queen, tôi bèn thấy quốc thiều Ðăng đàn cung năm xưa của Việt Nam mới thật là "majestuoso" và đượm Việt tính! Hơi nhạc rõ ràng là ôn hòa, phong nhã, quí phái, hoàn toàn không hung hãn sắt máu, nhưng khêu gợi cái hồn thiêng sông núi từ đáy sâu tiềm thức của dân tộc. Còn lời ca do cụ Ưng Thiều đặt ra quả đã gửi gắm nhiều lời tâm huyết nhắn nhủ con dân quyết tâm xây dựng tiền đồ cho tổ quốc, kêu gọi đồng bào đoàn kết thương yêu đùm bọc trong tình Việt tộc mặc dù vào thời đó Việt Nam đang ẩn nhẫn chịu ách thống trị của Pháp:
Chúng ta thấy cụ Ưng Thiều đã kín đáo nhắc nhở cái niềm kiêu hãnh ngoan cường của dân Việt với ý thơ kiêu hùng của Lý Thường Kiệt:
Tạm dịch do Lê Văn Lân là:
Bài Ðăng đàn cung trên được chính thức hát tại Huế và các tỉnh miền Trung trong những năm thập niên 30. Tôi còn nhớ trong khoảng những năm đệ nhị thế chiến 39-45, Ðông Dương dưới quyền của Toàn quyền Pháp Decoux theo chính phủ Vichy của Thống chế Pétain, thì chúng tôi thường phải hát những bài tiếng Pháp như "Maréchal! Nous voilà..." hay bài "Debout! Belle Jeunesse" - mà chúng tôi thường nhại là "Rờ bụ belle jeunesse" - của phong trào thể thao Ducoroy lúc đó đang rầm rộ toàn quốc với thâm ý của thực dân làm khỏa lấp tinh thần quật cường mưu đồ độc lập âm ỉ của người dân bảo hộ khi thực dân Pháp đang yếu thế phải chiều theo phe Trục của phát xít Ðức và Nhật... Trong thời gian này có tổ chức phong trào Ðua Xe đạp vòng Ðông Dương (Tour de l'Indochine), tranh Giải Bóng tròn của ba kỳ Nam Trung Bắc với những đội bóng Cochinchine, Annam, Tonkin. Qua phong trào thể thao, thực dân Pháp cố ý khuyến khích khí thế tranh tài hay khích bác lẫn nhau của dân ba kỳ nhưng với ý đồ chia rẽ để trị bằng cách đề cao tinh thần địa phương! Chính trong thời kỳ này, học sinh tiểu học các trường được phát cho không những tờ tranh vẽ nói về Thống chế Pétain người hùng của trận Verdun, về quan ba phi công Ðỗ Hữu Vị lái máy bay đánh giặc Ðức cho Pháp bị bắn rớt... Chính trong thời kỳ này, nếu tôi nhớ không lầm thì cụ Nguyễn Khoa Toàn làm chức Tá lý của bộ Học coi về giáo dục và văn hóa của Nam triều. Cụ nắm được ý đồ trên của Pháp nhưng lại khôn khéo, kín đáo, uyển chuyển lợi dụng phong trào thể thao Ducoroy thành lập Quốc Anh đoàn với mục đích huấn luyện thanh thiếu niên Việt về mặt thể dục và hướng dẫn về mặt tinh thần, tạo ý thức sâu đậm hơn về quốc gia dân tộc. Là học sinh đoàn viên Quốc Anh đoàn, tôi còn nhớ mang máng là mặc sơ mi màu nâu đồng phục hay quấn phu la màu nâu gì đó, chào nhau bằng cách đưa bàn tay phải chúm lại thành hình búp sen để trên trán, tượng trưng cho đạo đức tinh khiết của người quân tử. Học sinh khi chào cờ hát rầm rộ bài Ðăng Ðàn cung, ngoài ra còn được tập hát những bài ca yêu nước của Hoàng Qúy và Lưu Hữu Phước như Bạch Ðằng Giang, Ải Chi Lăng, Gò Ðống Ða... và đặc biệt nhất là bài Nước Non Lam Sơn: "Nước non Lam Sơn... Nước non Lam sơn! bóng cờ bay phất phới! Khắp nơi cờ vàng... muôn hồn quân Nam..." Bên cạnh số ít tranh của Pétain, Ðỗ Hữu Vị, học sinh được phát cho không nhiều tranh về lịch sử Việt Nam bằng màu về các anh hùng dân tộc như Trần Bình Trọng, Lê Lai, Nguyễn Huệ... Theo ông Hoàng Liên, phong trào Quốc Anh đoàn của cụ Nguyễn Khoa Toàn đã gặp nhiều trở ngại từ phía chính quyền bảo hộ Pháp vì nó tranh thủ ảnh hưởng của phong trào thể thao Ducoroy trong ý đồ thu phục mọi tiềm năng thanh niên trong nước (theo Hoàng Liên Nguyễn Văn Ðãi trong bài viết "Một trăm năm sau cụ Mai Trang Nguyễn Khoa Toàn, báo Ngày Nay 1/10/1998). Trở lại bài quốc ca Ðăng đàn cung, tôi thấy có một điều rất lạ cần chú ý là về sau ngoài Bắc người ta lại thấy xuất hiện hai bài Ðăng đàn cung khác với nhạc điệu lơ lớ tương tự có lẽ vì nghệ thuật ký âm và phối trí có đôi phần khác biệt, lời ca cũng khác hẳn ít nhiều: một của Carpentier, một của Lê Hữu Mục. Bài Ðăng đàn cung do Carpentier ký âm năm 1944 (?) mà bác sĩ Nguyễn Ðương Tịnh đã chép lại lời ca theo trí nhớ như sau:
Nếu hai bài Ðăng đàn cung trên ở Huế và Hà nội nói trên đã được chính quyền chính thức dùng cho học sinh hát để chào cờ thì một bài khác mang tên là Quốc ca Việt Nam soạn theo điệu Ðăng đàn cung xuất hiện năm 1842 do nhạc sĩ rất trẻ Lê Hữu Mục, tác giả bài ca trứ danh: "Chèo đi, bơi đi... nước non đang chờ ta bơi đi vững chèo tay lái..." Bài này do Lê Hữu Mục ghi nhạc và đặt lời như sau:
Bài Ðăng đàn cung của Lê Hữu Mục trớ trêu thay lại vào thời tinh thần hướng đạo ái quốc lên cao được các nhân vật về sau theo Cộng sản như Mai Văn Bộ và Lưu Hữu Phước viết hồi ký nhắc nhở lại mà ca tụng khi nó được trình diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội ngày 5 tháng 3, 1942 dưới sự diều khiển của nhạc sĩ Trần Văn Khê. Trong cuốn "Lưu Hữu Phưóc, con người và sự nghiệp", in năm 1989 do Nhà Xuất bản Trẻ, tác giả Mai Văn Bộ ghi lại những đàm thoại giữa ông (xưng tôi trong sách) và Lưu Hữu Phước (gọi tắt là Phước) về bài đăng đàn cung của Lê Hữu Mục trên trang 112:
Xin ghi đặc biệt là Lưu Hữu Phước rất biết và đã tiếp xúc khen ngợi tác giả của bài quốc này là Lê Hữn Mục thời 1942 và cũng gặp lại sau 1975 nhưng con người cọng sản của Lưu Hữu Phước - vì lý do chính trị - phải chăng cố tình lờ cái tít danh tánh của Lê Hữu Mục ở miền Nam "ngụy" đã làm bài quốc ca mà ông nhiệt tình ca tụng mà chỉ nói bâng quơ là "một nhà trí thức Huế soạn". Trái lại dân Việt Nam Cộng Hoà miền Nam vẫn tâm phục và đề cao tinh thần chân thành ái quốc của ông vào thời điểm ông sáng tác bài "Tiếng Gọi Sinh Viên" hồi ông còn là sinh viên ở Hà Nội! Nhận định về hơi nhạc của bài Ðăng đàn cung được ký âm theo Tây phương thì cụ Nguyễn Khoa Toàn viết rằng:
Sự nhận định của cụ Nguyễn Khoa Toàn đã giảng nghĩa rõ ràng tại sao những bản ký âm Ðăng đàn cung khác nhau về nét nhạc nào là của Fournier & Trần Như Tú, nào là của Carpentier, nào là của Lê Hữu Mục. Lời của cụ Nguyễn Khoa Toàn cũng đã khiến ta hiểu về cái tâm tình hưởng ứng không mấy thiện cảm của người dân Việt Nam bảo hộ đối với các bài Ðăng đàn cung do Fournier & Trần Như Tú và Capentier ký âm và tái phối trí - vì dính với những tên tác giả Pháp nên nghĩ rằng do chính quyền Pháp cố tình áp đặt cho Việt Nam. Tuy nhiên về bài Ðăng đàn cung phối trí và đặt lời do một hướng đạo sinh Việt Nam trẻ tuổi tài ba tên Lê Hữu Mục trong tinh thần tự nguyện thì được hưởng ứng mạnh mẽ rộng rãi hơn, nghĩa là được hát trong những buổi họp bạn sinh hoạt của các đoàn hướng đạo hay thanh thiếu niên Việt Nam trước 1945. Nhưng là người Việt hậu sinh, khi ngược giờng thời gian nhìn vào quá khứ thì chúng ta phải công tâm mà nói rằng "tất cả những bản quốc ca Ðăng đàn cung cũ" - dù là trong hoàn cảnh xã hội chính trị cũ nào và với những kỹ thuật sáng tác khác nhau ra sao - đều đã mang một giá trị lịch sử quí giá vì ghi lại phần nào hơi nhạc trang nghiêm và cổ kính của nhạc cổ và nhất là gói ghém nhiều tình cảm nồng nàn yêu nước qua những lời ca đầy tâm huyết dưới ách thống trị của Pháp thực dân. Khi nói đến quốc kỳ và quốc ca thời Pháp, thiết tưởng chúng ta cũng nên nhắc đến lá cờ Tam sắc và bài La Marseillaise của Pháp mà chúng ta vì hoàn cảnh lịch sử phải ẩn nhẫn chào kính chúng trong thời gian ta bị Pháp thuộc. Tôi không rõ tại sao người ta gọi cờ Pháp là cờ Tam tài mà phải dịch đúng là cờ Tam sắc (tricolore) vì Tam tài là danh từ chỉ ba phần trong vũ trụ là Thiên Ðịa Nhân trong tinh thần dịch lý Ðông phương. Nguyên ủy của cờ Tam sắc biểu hiệu cho nước Pháp bắt nguồn vào tháng 7 năm 1789 khi người ta phối hợp trên một quốc huy hình tròn (cocarde): màu trắng - màu của nhà vua - với màu xanh và màu đỏ - lá cờ của thành phố Paris, tượng trưng cho sự đoàn kết của nhà vua và thần dân (theo Tự điển Larousse). Người Pháp trong ngôn ngữ chỉ dùng danh từ Tricolores (Tam sắc) là đủ nhắc đến quốc kỳ của họ hay là nước Pháp, khỏi cần dài dòng nói là "drapeau tricolore" hay la France như ví dụ: "Les tricolores ont gagné le match" (Pháp đã thắng giải tranh tài). Ở Việt Nam, than ôi và trớ trêu tai hại thay cho vài người dân bị chết oan vì ba màu "xanh, trắng, đỏ"... đó là thời kỳ Toàn dân kháng chiến chống Pháp, dân thành phố tản cư về miền quê không ít người bị Tự vệ Việt Minh kết án là Việt gian phải xử tử với dao găm và mã tấu vì mặc áo thun maillot có ve cổ tam sắc! (Cũng nói thêm trong thời gian này có vụ cấm uống rượu gạo hay đế vì người dân thiếu gạo ăn nên không ai được xa xí dùng gạo mà nấu rượu. "Uống rượu là uống máu đồng bào", khẩu hiệu Việt Minh nói như vậy! Nhưng có một bợm nhậu vớ được một chai rượu Tây nên nhậu rất ngon lành. Ðang lúc say sưa bí tỉ thì bị tự vệ Việt Minh bắt, bợm ta liền lè nhè cãi lý sự như sau: "Uống rượu gạo ta nấu là uống máu đồng bào! Ðúng!... Còn tôi thì uống rượu Tây nấu... tức là tôi đang uống máu Tây!" Tôi xin để quí bạn đoán phần kết cuộc câu chuyện này. Cũng nhắc đến chữ Tam sắc thì tôi xin nói về tinh thần hài hước của dân Việt là vào khoảng cuối thập niên 40, ở Sài gòn có những lần lính diễn binh nên có bài hát nhại bài Tiến quân ca của Việt Minh với câu ngộ nghĩnh như sau: "Cờ Tam sắc phất phới đi đằng trước, mút-cờ-tông (mousquetons), mi-trây-dét (mitraillettes) đi đàng sau!" Còn bài Marseillaise của Pháp cũng gây một vài giai thoại lý thú cho dân Việt. Bài này vốn là một bài hát ái quốc (chant patriotique) vào năm 1795 rồi năm 1879 trở thành quốc ca của Pháp. Sáng tác năm 1792 cho đội quân sông Rhin, do một đại úy công binh tên là Claude Joseph Rouget de Lisle, đồn trú tại Strasbourg, ban đầu mang tựa đề là Chant de guerre pour l'armée du Rhin (Chiến ca cho Quân đoàn sông Rhin); rồi những "chiến sĩ cách mạng của Liên quân chống những kẻ thù cho Tự do" từ Marseille (les fédérés marseillais) là những người đầu tiên phổ biến bài này tại Paris trong thời Cách mạng. Cái trớ trêu là Rouget de Lisle thuộc phe Bảo hoàng nhưng tác phẩm của ông lại được phe Cách mạng chọn làm quốc ca. Nhưng về sau, ông cùng những đồng chí phe Bảo hoàng bị Robespierre trong thời Ðại Khủng bố Cách mạng (Grand Terreur) đưa lên máy chém. Với âm điệu phong phú rộn ràng, bài Marseillaise của Pháp là một bài được lan ra khắp thế giới, nhưng lại được người ta chơi nó trong những trường hợp khá ngộ nghĩnh như trong đám cưới lẫn đám ma chẳng hạn. Ở Việt Nam bài Marseillaise được nhiều người đặt lời Việt. Tôi còn nhớ lõm bõm một vài câu của lời ca nhại điệu Marseillaise tả một ông đồ dạy chữ Nho ngộ nghĩnh như sau:
Nhưng có một trường hợp ít người biết là bài Marseillaise, tuy là của Pháp, nhưng lại được nhân vật Xứ Nhu của Việt Nam Quốc Dân đảng của Nguyễn Thái Học đặt lời Việt trong bài ca Tiến quân cho những đồng chí khi tấn công đồn binh Pháp! Lời ca như sau:
Sự kiện bài Marseillaise được phổ biến trên khiến tôi suy nghĩ rằng một tác phẩm văn nghệ ban đầu thuộc về tác quyền của cha đẻ nó nhưng một khi nó được một quần chúng vĩ đại nhiệt tình hưởng ứng xử dụng nó thì phải chăng nó trở thành tài sản của một phần nhân loại mà chính cha đẻ ra nó khó có quyền đòi lại cho là một sở hữu riêng? Ðây cũng là trường hợp của bài Tiếng gọi Sinh viên nguyên thủy của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước biến thành bài Quốc ca của Quốc gia Việt Nam rồi của Việt Nam Cộng Hòa. Thắm thoát 100 năm đã trôi qua, quốc kỳ Long tinh và quốc thiều Ðăng đàn cung xưa cũ tưởng chừng không còn ai nghe thấy nữa. Vật đổi sao dời, bao nhiêu nước chảy qua cầu, lòng tôi tưởng chừng nguội lạnh dưới đống tro tàn dĩ vãng. Ai ngờ vào một ngày trong cuối thế kỷ, bóng cờ và điệu nhạc xưa bỗng có dịp xuất hiện trở lại: đó là ngày 5 tháng 10 năm 1997 vào dịp lễ cầu siêu Thất tuần cho vị Hoàng đế cuối cùng của nước Việt Nam tổ chức trong khuôn viên khu rừng Vincennes tại chùa của Viện Phật giáo Pháp. Ngày xưa, khúc nhạc Thiều của vua Thuấn đã ca ngợi cảnh âu ca đến nỗi chim phụng trên trời còn đáp xuống nghe, còn con kỳ lân - con vật thần thoại hiền lành - xuất hiện là điểm thái bình thịnh trị ứng với thời điểm khi đức Khổng tử ra đời tại nước Lỗ. Nhưng sau này, khi Khổng tử chép kinh Xuân Thu đến chuyện "bắt được con kỳ lân ngoài đồng" thì dừng lại không muốn chép thêm nên bộ Xuân Thu được người ta gọi là Lân Kinh. Cụ Ðồ Chiểu khi nước mất nhà tan vào cuối thế kỷ 19 vì giặc Pháp, đã mơ ước trong tuyệt vọng cảnh thái bình thịnh trị không bao giờ đến nữa nên đã cảm khái viết trong một bài thơ với câu là:
Suốt trong một trăm năm qua, trên đất nước quê hương, hình ảnh của hai con vật phụng và lân tiếp tục vẫn là một điều ảo tưởng cho người dân chúng ta khi tìm về một viễn tượng thái bình thịnh trị cho đất nước!
LÊ VĂN LÂN |